Tin tức  |  Diễn đàn  |  Thư viện hình  |  Liên hệ
Chủ nhật,
09.05.2021 05:21 GMT+7
 
 
Kho bài viết
Tháng Năm 2021
T2T3T4T5T6T7CN
          1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31            
 <  > 
Nhận thư điện tử
Email của bạn

Định dạng

Thành viên online
Thành viên: 0
Khách: 1
Số truy cập: 1391193
Tin tức > Trang Văn trong nước > Xem nội dung bản tin
Trương Công Dũng: Lưỡi dao - Truyện dài - Phần 2
[02.01.2019 10:18]
Ông lão ngừng kể, đưa tay làm dấu thánh. Hai hàng nước mắt chảy trên gò má nhăn nheo. Không gian im ắng đến mức có thể nghe thấy tiếng một giọt sương rơi trên cành lá. Cổ họng tôi như bị tắt nghẹn lại. Cố gắng lắm tôi mới thốt lên lời:

- Sao vậy?

- Giải phóng các anh bắn chết chứ sao.

- Làm gì có chuyện đó – Tôi ngạc nhiên thật sự - Chắc bà cụ bị trúng miểng pháo chớ gì?

- Khi bầy tui gặp xác bà trong hào trú ẩn ở quãng đường dốc cuối thôn, nơi anh đứng gặp con Nguyệt bữa nọ, người bà lão lỗ chỗ đầy vết đạn. Mấy thằng thanh niên coi thấy toàn dấu đạn AK. Lính cộng hòa tụi nó bắn bả làm gì.

Tôi biết không nên tranh cãi thêm nữa vô ích. Tôi cáo từ cụ trưởng họ đạo trở về. Ngày hôm sau tôi bỏ hết mọi việc, đi tìm các đơn vị bộ đội ở gần đó để hỏi cho ra lẽ. Cuối cùng sự việc phủ phàng ấy được xác nhận. Một cậu lính trẻ nhăn nhó kể: - Ôi, dân ở đây khiếp lắm. Toàn là bọn công giáo chống cộng. Chúng nó chống cự như điên. Lúc chúng em tiến vào thôn, bọn lính ngụy chạy sạch. Chỉ có một mụ già nấp dưới giao thông hào, hai tay cầm sẵn hai quả lựu đạn Mã Lai. Tiểu đội em chạy ngang, con mụ ấy tung lựu đạn ra. Bốn thằng chết. Thắng bạn em bị thương ở vai. Nó quạt cho mụ ấy một băng AK. Thằng ấy đến nay vẫn còn nằm ở quân y chưa về…

Tất cả là như thế đó.

>>> Lưỡi dao - Phần 1

*

Tôi không thể gặp để nói chuyện với cô gái đáng thương ấy được. Mà dù có gặp tôi cũng chưa biết sẽ nói chuyện gì. Cô không ở hẳn trong thôn. Cách thức đi về khá bí ẩn. Một lần vào lúc xế chiều tôi bắt gặp cô một mình lúi húi bới một đống củ mì to nặng, nâng lên vai. Tôi định bước tới mang đỡ cho cô đem về thôn nhưng cô quay lưng lại đi thẳng về phía rừng. Tôi đứng im nhìn theo, phần nào đoán được cô đem đến cho ai.

Một lần khác sự suy đoán của tôi trở nên chắc chắn hơn.

Hôm đó Trần Quốc Nghĩa triệu tập tôi về họp đoàn công tác. Vì phải giải quyết vài việc gấp trong thôn nên tôi tới trễ. Khi tôi bước vô nhà, buổi họp đang rất sôi nổi.

Mọi người đang bàn chuyện vận động thanh niên tòng quân. Đó là yêu cầu cấp bách của chiên trường. Lúc đó những trận đánh cuối cùng của cuộc chiến tranh ba mươi năm đang diễn ra gần sát Sài Gòn. Ở những thôn mới được giải phóng này thì không dễ gì vận động được thanh niên tham gia chiên đấu cho chính quyền cách mạng. Hoàn toàn không phải vì họ sợ chết.

Một người nói: - Tôi vận động khổ cả họng mà chẳng ai chịu nghe. Ai cũng lắc đầu. Mấy thằng cà chớn còn trả lời thẳng: “Nếu ép riết, tụi nó sẽ bỏ trốn”.

Người khác cáu kỉnh: - Thật là lạ cho cái dân ở xứ này. Cầm súng đánh thuê cho Mỹ, bắn giết đồng bào, lao đầu vào chỗ chết trong khi vợ con ở nhà làm đĩ, thì chịu. Còn khi được kêu gọi tham gia chiến đấu giải phóng dân tộc, giải phóng quê hương thì lại từ chối. Tôi không sao hiểu nổi.

Những người dự họp ngồi quanh một cái bàn dài. Mặt ai cũng đỏ rực, nhễ nhại mồ hôi. Trời nóng quá. Vậy mà có ai đó nằm trên võng mắc ở góc nhà lại trùm mền kín mít. Chắc anh ta đang sốt rét.

- Lễ đưa quân vừa rồi ở Phước Vĩnh ra sao? – Tôi hỏi.

Nghĩa sa sầm: - Ông không nghe hay sao mà còn phải hỏi. Cả thôn chỉ vận động vỏn vẹn được có ba thằng. Thế mà cũng làm rùm beng cả lên. Hôm tổ chức lễ tiễn đưa lại còn mời cả cán bộ trên tỉnh về dự nữa chứ. Chẳng biết mấy cha nội làm ăn ra sao lại đưa một thằng mất dạy lên phát biểu cảm tưởng. Cầm microphon đứng trước võ văn bá quan, nó hét tướng lên: “Nga, Tàu giúp miền Bắc, Mỹ giúp miền Nam, chẳng qua đều để giành giật xâm lược đất nước Việt Nam này thôi. Vì vậy từ nay chúng ta không đi lính cho ai cả”. Thế là bọn thanh niên ngồi dưới vỗ tay ầm lên. Kể ra thằng mất dạy ấy cũng liều thật.

- Tại các ông cưỡng ép tụi nó chớ gì? – Tôi hỏi ông chủ tịch thôn Phước Vĩnh đang đỏ mặt tía tai.

Anh ta lúng túng trả lời: - Thì có thằng nào tự giác đâu mà không ép. Mà tôi cũng chuẩn bị đầy đủ cả đấy chứ. Giấy cảm tưởng tôi đã viết sẵ̃n cho nó. Thế mà nó phản. Tiên sư bố cái thằng mất dạy ấy!

- Thôn ông đợt này ra sao? Nghĩa hỏi tôi.

- Mười người. – Tôi đáp.

- Cái gì. Bao nhiêu? – Nghĩa làm như không nghe rõ.

- Mười người. – Tôi khẳng định.

- Ông không làm bể như ở Vĩnh Phước đấy chứ?

- Không. Tất cả đều tự giác.

Mọi người quay nhìn tôi. Nghĩa hỏi: - Ông có chủ quan không?

- Rất chắc chắn. – Tôi khẳng định và tiếp – Phước Long mới được giải phóng gần hai tháng. Dân ở đây sống hàng chục năm dưới chế độ cũ, không được tiếp xúc với cách mạng, hiện nay còn đang bỡ ngỡ mà mình đòi người ta tự giác cầm súng chiến đấu cho mình thì thật vô lý…

- Vậy ông làm cách nào? – Nghĩa cắt lời.

- Tôi chọn gia đình có đông thanh niên, nói với họ một cách sòng phẳng như thế này: các anh đã thấy rõ cả rồi đó. Cách mạng sắp thành công. Miền Nam sẽ được hoàn toàn giải phóng. Các anh nghĩ xem xã hội mới sẽ tôn trọng và ưu đãi ai? Những gia đình chỉ toàn những người đã cầm súng chống lại cách mạng hay những gia đình tham gia đóng góp cho cách mạng. Các anh hiểu đi tòng quân lúc này có lợi như thế nào rồi chớ. Tôi nói gọn như vậy, các gia đình bàn bạc sôi nổi ngay. Sau đó mười người tự giác ghi tên tòng quân.

- Đồ quỷ! – Nghĩa bật cười – Té ra ông đã biến cách mạng thành món hàng cho người ta đi buôn hả?

- Ừ, thì cứ cho là vậy đi. Nhưng dù sao, thì cũng vẫn là tự giác, tốt hơn nhiều so với cưỡng ép. Nhưng anh yên tâm. Sau này các cán bộ chính trị trong quân đội sẽ giáo dục họ dần. Qua chiến đấu và đấu tranh cách mạng họ sẽ giác ngộ ra thôi.

Cuộc họp tiếp tục một lúc rồi giải tán. Nghĩa giữ tôi lại bàn thêm một số việc. Trong lúc nói chuyện tôi thỉnh thoảng tôi lại liếc nằm trên võng, trong bụng có phần ái ngại. Tôi hỏi:

- Ai đó, sốt rét hả?

- Ừ, sốt rét. Một cô bé. Bộ đội ta tuần tra trong rừng bắt gặp cô đang ngất. Anh em đưa về đây. Lúc vừa khiêng cô đi thì chạm trán với tàn quân. Tụi nó nổ súng trước. Hai bên bắn nhau nhưng không ai chết. Y tá đã chích thuốc cho cô ấy.

Tôi giật mình vội bước tới kéo phần mền trùm đầu cô bé ra. Maria Nguyệt mở to mắt nhìn tôi. Cô khẽ lắc đầu. Đôi mắt như muốn nói điều gì nhưng tôi không sao hiểu nổi. Tôi nói với Nghĩa:

- Người ở thôn tôi đó. Gia đình cô ta không còn ai. Anh nhớ dặn y tá chăm sóc chu đáo. Nhưng để cô ta dự nghe những buổi họp như hôm nay thì không nên đâu.

Nghĩa gật đầu. Tôi bắt tay anh và trở về thôn.

*

Có thông báo trên huyện gởi về yêu cầu tập trung tất cả cảnh sát cũ đưa đi học tập cải tạo. Thôn tôi chỉ có một người. Đó là trung sĩ Trần Vân. Sau ngày giải phóng, theo chủ trương của chính quyền, anh ta cùng vợ con từ thị xã sơ tán về thôn này, ở nhờ nhà dân, làm mướn kiếm ăn. Vợ Trần Vân mang bầu sắp tới ngày sinh. Sau khi anh ta đi rồi, tôi đưa thanh niên đến dựng cho chị Vân một ngôi nhà và phụ phát rẫy trồng mỳ. Nguyệt cũng tham gia buổi lao động hom đó. Thấy tôi cô không bỏ đi như mọi lần nữa. Cô làm việc rất tích cực mặc dù người vẫn còn rất yếu.

Khoảng một tuần sau, vào lúc nữa đêm, đội trưởng du kích đánh thức tôi dậy. Anh ta hớt hải:- Chị Vân đau nặng, đang hấp hối. Chị ấy nhắn anh tới ngay để trối lại vài điều. Đi mau lên!

Tôi vùng ra khỏi gường, nhanh chóng mặc áo quần áo, vội vã đi theo người du kích. Bên ngoài trời đầy sao nhưng lạnh ngắt. Không nhà nào còn ánh đèn. Cả thôn đang ngủ say.

Nhà chị Vân ở tận trong khe suối. Khi dựng nhà cho chị chính tôi lựa chọn địa điểm này vì chị có thai gần sanh, ở gần suối lấy nước tiện hơn.

Chúng tôi đi như chạy, mấy lần suýt vấp ngã vì đường mấp mô. Khi đi trên bờ ruộng trời còn sáng lờ mờ, nhưng vô tới trong rừng trời rất tối. Đường mòn khúc khuỷu quanh co. Ban đêm vang lên rất rõ tiếng chân đạp trên lá khô và tiếng báng súng AK của đội trưởng du kích đập lách cách bên hông. Tôi đi bươn bã, bụng bồn chồn: Nếu lỡ chị Vân có bề nào…

Trên sân trước nhà còn mấy thanh niên đang đứng chờ. Thoáng thấy tôi họ nói ngay: - Chú mau lên, chị Vân sắp chết rồi!

Tôi bước vô. Trong nhà sáng lờ mờ. Một ngọn đèn sắp hết dầu cháy leo lét. Hai phụ nữ đang săn sóc cho người bệnh tránh qua một bên nhường chỗ cho tôi. Chị Vân nằm mê man.

Một người lay lay hai vai chị Vân: - Chị Vân, chị Vân, tỉnh lại đi. Chú Hùng tới rồi đây nè.

Tôi đưa ngọn đèn lại gần. Khuôn mặt người bệnh trắng bệch, hai mắt nhắm nghiền, nhưng hàng mi cứ rung động từng chập. Một hồi lâu chị nấc nhẹ rồi từ từ mở mắt. Chị không nhìn tôi, chỉ ngó trừng trừng lên nóc mùng, thều thào từng tiếng đứt quãng:

- Ông chủ tịch. Anh Hùng phải không? Tôi sắp chết… Hai đưa con tôi… anh nuôi giùm. Khi nào Vân học tập về… anh giao lại. Anh và bà con ở lại. Tôi đi…

Tôi hỏi những người xung quanh:

- Chị Vân bệnh từ hồi nào. Sao không đưa đi trạm xá xã?

- Mới từ chiều hôm qua. Chị ấy bị sốt rét. Lúc đầu chỉ nóng sơ thôi. Trưa nay y tá tới khám, cho thuốc, nhưng chị ấy không uống, sợ bị hư thai. Y tá khám xong trở về trạm xá xã ngay. Đầu hôm chị Vân trở nặng tới giờ.

Tôi cầm cổ tay chị Vân. Mạch đập rất yếu. chị Vân tiếp tục thiếp đi. Tôi nói với đội trưởng du kích: - Còn kịp. Anh đi kêu y tá trở lại mau lên. Nhớ nói đem theo thuốc chích cấp cứu.

Đội trưởng du kích im lặng. Anh ta có vẻ lúng túng. Tôi ngạc nhiên: - Sao vậy?

- Từ đây tới trạm xá xã phải đi hơn bốn cây số đường rừng. Liệu có còn kịp không. Đêm hôm khuya khoắt, lỡ gặp tàn quân là tụi nó bắn ngay. Tụi nó có biết mình là ai đâu… - Đội trưởng du kích nói lí nhí, giọng run run.

Tôi vốn không ưa con người này. Đó là một người hẹp hòi, ngu ngốc mà lại thích bon chen. Tôi cử anh ta làm trưởng đội du kích theo gợi ý của công an xã. Anh ta có một người chú tham gia cách mạng và vì thế sống trong thời đại lý lịch này anh ta bỗng trở thành con người thơm tho nhất thôn.

Tôi giận tràn hông, hỏi một câu hết sức thừa:- Anh sợ à?

Đội trưởng du kích im thin thít. Anh ta co rúm, nhìn tôi bằng cặp mắt cầu khẩn. Tôi có nén giận, hỏi những người xung quanh:- Ai dám đi?

Nhưng cũng không ai trả lời. Mấy thanh niên bắt đầu lảng dần ra xa, như sợ tôi thấy mặt kêu đích danh họ. Bầu không khí trong nhà càng thêm nặng nề.

Chị Vân khẽ rên một tiếng. Tôi bước lại gần đội trưởng du kích, chẳng nói chẳng rằng đưa tay giật lấy khẩu súng AK đeo trên vai hắn rồi quay lại hỏi mọi người:- Ai đi với tôi?

Một lần nữa tất cả vẫn lặng im. Người đàn bà đang xoa dầu cho chị Vân thì thào:- Anh đừng đi. Tụi nó bắn anh chết mất.

Tôi lên đạn khẩu AK, gài khóa nòng, khoác vào vai rồi nói với đội trưởng du kích: - Anh ở đây coi chừng chị Vân. Khi tôi và y tá trở về mà chị Vân có bề nào thì anh đừng có trách. Ngày mai tôi sẽ cử người khác thay anh.

Đội trưởng du kích rũ người ra như kẻ mất hồn. Nhìn bộ dạng thảm hại của hắn, tôi không kìm nổi sự khinh bỉ. Tôi lẩm bẩm: “Đồ hèn nhát…”.

Tôi bước ra cửa. Nhưng trên ngưỡng cửa trước mặt tôi, cái bóng dáng bé nhỏ rất thân thuộc với tôi đã đứng ở đó từ lúc nào. Cái bóng ấy nói khẽ nhưng rành rọt: - Tôi sẽ đi với ông.

Rồi xoay người nói tiếp: - Ta đi thôi!

*

Tôi cùng với Nguyệt băng qua cánh rừng thưa, qua ruộng, cho tới khi lên đến mặt lộ mà không ai nói với ai một lời. Tới quãng đường dốc cuối thôn tôi đứng lại, rút súng ngắn đưa cho cô:

- Cô cầm lấy và đi sau tôi chừng ba mươi thước. Nếu lỡ gặp tàn quân và xẩy ra việc gì thì cô phải trốn ngay vô rừng. Nhưng dù sao cũng phải đưa cho được y tá về thôn. Còn thì.. – tôi mỉm cười – cô còn nhớ không, trong lần gặp gỡ đầu tiên tôi đã nói rằng cô còn nhiều cách khác tốt hơn.

Nguyệt nghiêm nghị ngắt lời tôi:- Từ nay về sau ông đừng bao giờ nhắc tới chuyện đó nữa. Ông cất súng đi. Tôi sẽ đi bên ông.

- Nhưng lỡ gặp tàn quân thì sao? Chắc chắn sẽ bắn nhau. Tất nhiên tôi phải nổ súng trước. Nhưng như thế không có nghĩa là mọi việc sẽ kết thúc tốt đẹp.

- Ông bắn trước ư? Ông cũng giết người ư?

- Để họ bắn trước thì trễ mất rồi. Cô thấy đó, tôi và những người lính tàn quân kia không quen biết nhau, vốn không thù hằn nhau, nhưng chắc chắn sẽ phải bắn nhau. Chúng ta đang sống trong chiến tranh, do đó phải chấp nhận đôi điều vô lí của nó.

- Nghĩa là ông giống như họ?

- Giống ở chỗ cùng đều là con người với tất cả những tình cảm của con người. nhưng khác nhau về lý tưởng. Mà thôi, cô hãy nghe lời tôi lùi lại phía sau đi.

Nguyệt lắc đầu, thở dài: - Tôi sẽ đi bên ông. Nếu gặp tàn quân xin ông đừng bắn trước. Khi có tôi đi bên ông, nhất định họ sẽ không bắn đâu.

- Tại sao?

- Tất cả tàn quân trong khu vực này đều quen biết tôi. Tôi vẫn giúp đỡ họ sống những ngày qua – cô mỉm cười buồn bã – họ gọi tôi là thiên thần bé nhỏ của họ. Tôi nói gì họ cũng nghe theo.

Thì ra là như vậy.

Và thế là chúng tôi đi bên nhau.

Lúc này đã quá nửa đêm nhưng trăng khuya bây giờ mới mọc. Một thế giới huyền ảo dần dần hiện lên trong ánh sáng bàng bạc của chiếc lưỡi liềm bằng vàng đang treo lơ lửng giữa bầu trời lạnh ngắt. Khi có ánh trăng, rừng và núi non lùi ra xa, không còn giữ cái vẻ âm u đầy đe dọa nữa. Chúng trở thành một bức tranh đẹp tuyệt vời và nhẹ bổ̃ng. Bức tranh ấy run rẩy khi một ngôi sao rực rỡ lướt nhanh qua đầu chúng tôi, rơi chênh chếch tắt ngấm ở phía chân trời.Bốn bề im lặng. Ngoài tiếng chân bước và hơi thở dồn của chúng tôi ra, xung quanh không còn một âm thanh nào khác. Chỉ một lần từ bụi cây bên đường, một con thú nhỏ giật mình tốc chạy, phóng ràn rạt trong cỏ tranh. Nguyệt bước sát bên tôi và tình cờ những ngón tay của chúng tôi chạm vào nhau. Một cảm giác mơ hồ nhưng cũng đẹp như bức tranh thiên nhiên đang được tấm lụa mờ của sương đêm bao phủ kia làm tôi bồi hồi xao xuyến. Tôi quên đi tất cả những chuyện xảy ra vừa rồi và một trạng thái thơ mộng khiến tôi bỗng chốc bâng khuâng.

- Tại sao ông khinh dân chúng tôi vậy?

Nguyệt đột ngột hỏi. Giọng cô nhẹ nhàng, không gay gắt, nhưng cũng đủ làm giấc mơ của cô vụt tắt.

- Sao kia?

- Ông coi thường dân chúng tôi quá. Bữa họp ở xã, chẳng phải chính ông đã nói lên điều đó hay sao?

Tôi càng ngạc nhiên: - Cô hãy nói cho rõ hơn.

- Về việc vận động tòng quân. Ông nghĩ rằng những người dân ở đây không biết yêu nước, không căm thù quân xâm lược, không căm ghét những chế độ làm tay sai cho ngoại bang hay sao? Chẳng lẽ không có các ông, chúng tôi không biết tìm cách chống lại những kẻ áp bức mình hay sao. Việc gì ông phải kích động sự tính toán thiệt hơn tầm thường để người ta tự giác tòng quân kia chứ?

Tôi bàng hoàng. Cô gái đã nói đúng một sự thật hiển nhiên mà tôi không hề ngờ tới. Tôi đã hiểu sai về dân ở đây. Trong những ngày công tác ở thôn Phước Quả, tôi đã làm được vài việc, giành vài thắng lợi. Nhưng đối với những người sống hàng chục năm dưới một chế độ khác, tôi quên mất rằng họ, trong khái niệm nhân dân, rất cao cả, khiếm tốn và lớn lao.

Chính cụ trưởng họ đạo đã nhiều lần nói “Bầy tui chỉ là dân…”.

Tôi nhìn Nguyệt. Cô gái này là ai? Có phải cô đúng là một thiên thần nhỏ bé hay không, hay chỉ là một cô gái nghèo khổ, đáng thương, đứa con bình dị của nhân dân. Những lời cô vừa nói ra, là do sức mạnh huyền bí tỏa lai láng từ một nguồn sáng thiêng liêng, hay là tiếng nói trang trọng của những người vốn chỉ là dân.

Có lẽ trong người con gái ấy có cả hai điều đó.

Tôi không thể trả lời những chất vấn của Nguyệt được. Nếu chỉ bằng một lời xin lỗi đơn giản thì tôi cũng không muốn. vì thế tôi cứ im lặng mãi trên đoạn đường còn lại, cho đến khi vô đến trạm xá xã. Nguyệt cũng không nói thêm lời nào.

Rồi cùng với chị y tá, chúng tôi hối hả trở về thôn. Khoảng nửa giờ sau khi y tá chích thuốc cấp cứu, chị Vân bớt nóng và ngủ yên. Những con gà rừng thức dậy đầu tiên bắt đầu eo óc gáy.

Những người tụ tập trong nhà chị Vân giải tán dần. Đội du kích bỏ đi trước tiên. Chị y tá mắc võng ngủ bên giường người bệnh.

Tôi bước ra ngoài sân, ngồi xuống bên một gốc cây, lặng lẽ hút thuốc lá. Tôi không cảm thấy buồn ngủ nhưng toàn thân mỏi nhừ. Nguyệt đến sát sau lưng tôi hồi nào tôi cũng không hay, mãi đến khi cô đưa những ngón tay nhỏ nhắn mềm mại lùa vào mái tóc rối bù của tôi, tôi mới nghe bên tai một tiếng thở dài. Cô thì thầm:- Ông có mệt lắm không?

Tôi lắc đầu rất nhẹ, như muốn để cho cái cảm giác êm dịu mỏng manh khỏi tan vào làn sương sớm đang quyện phủ xung quanh. Những ngón tay Nguyệt mơn man trên mái tóc tôi. Cô cứ vuốt mãi, vuốt mãi và thời gian chậm chậm trôi trong tiếng tí tách khe khẽ của những giọt sương trong vắt buông mình rơi qua kẽ lá. Một nhịp đập bất thần làm xao động lòng tôi, giống như từ trong đám mây xám ở chân trời kia bỗng rạn nứt những ánh hồng nhạt nhòa của buổi bình minh ẩm ướt.

Nguyệt thở dài lần nữa. Cô nói rất nhỏ trước khi bỏ đi: - Sáng mai ông chờ tôi ở trụ sở thôn. Tôi sẽ tới.

Cô không để tôi chờ lâu. Khi mặt trời vừa cất mình lên khỏi những cánh rừng sau thôn, tỏa ánh nắng vàng dịu và hào phóng của nó cho buổi sáng mùa xuân tươi mát, tôi nhận ra cái bóng dáng nhỏ bé thân thương ấy từ cuối đường xa. Phía sau cô năm người lính tàn quân lầm lũi bước theo. Nòng những khẩu AR15 chúc xuống đất.

*

Tên của Maria Nguyệt ghi ở dòng thứ mười một trong danh sách những người đi tòng quân đợt đầu tiên của thôn. Tôi không thể giữ cô ở lại mặc dù giờ đây tưởng chừng như tôi chẳng bao giờ có thể rời xa cô được nữa.

Sau lễ tiễn đưa, Nguyệt và tôi tới thăm nơi yên nghỉ cuối cùng của bà nội cô. Bà lão nằm trong vườn cây sau lưng nhà thờ. Những chiếc lá vàng lác đác rơi trên nấm mồ xanh cỏ.

Rồi tôi đưa cô trở lại quãng đường dốc cuối thôn, tần ngần dừng chân bên đoạn hào trú ẩn đã sạt lở. Chúng tôi đứng bên nhau rất lâu trong tiếng chuông gióng giã đổ hồi. Nguyệt ngước nhìn tôi im lặng. Đôi mắt tuyệt đẹp của cô tràn ngập một nỗi buồn khó tả. Cô trao cho tôi một gói nhỏ, thì thầm:

- Ông hãy giữ lấy vật kỷ niệm này. Lưỡi dao đó. Và hãy quên em đi, mặc dù… - Cô quay mặt đi nuốt nước mắt – Có lẽ chẳng bao giờ em quên được ông đâu.

Cô ngẩng gương mặt nóng bỏng nhìn tôi lần chót, rồi buông tay tôi ra, hấp tấp quay lưng bước nhanh về phía những người sắp lên đường đang đứng chờ cô.

Thiên thần nhỏ bé ấy vỗ cánh bay đi.

Từ ngày đó tôi không bao giờ gặp lại Nguyệt nữa.

Vài ngày sau khi cô lên đường đến lượt tôi từ giã thôn Phước Quả mang ba lô trở về căn cứ nhận nhiệm vụ mới. Sau chiến tranh tôi trở lại xóm đạo nhỏ bé đã bình yên để thăm các gia đình nhân dân và hỏi thăm tin tức về cô. Nhưng không ai biết số phận người con gái ấy ra sao. Tôi bỏ hàng tháng trời tìm kiếm các đơn vị đã tuyển quân vùng này, nhưng đều vô ích. Không ai có thể nhớ nỗi những đơn vị đã hành quân qua đây. Thiên thần nhỏ bé ấy đã mãi mãi bay xa.

Ôi, thiên thần nhỏ bé của tôi. Giờ này em đang ở đâu? Trong những đêm sâu vắng, khi trần gian đang chìm trong giấc ngủ ngon say, tôi vẫn luôn nhớ đến em. Tôi nhìn lên bầu trời tím ngắt có vô số những vì sao lấp lánh và đau đớn nghĩ rằng, lẽ nào em đã trở thành một ngôi sao xanh biếc, xa xôi trong khoảng không gian lạnh lẽo kia, đang hấp háy nhìn tôi và dõi mãi theo tôi trên những nẻo đường của cuộc đời đầy bão táp này, hay sao?

6 -1984

In lần đầu trên Tạp chí Sông Hương số 6 năm 1992

T.C.D

(Theo bản trên FB Công Dũng Trương)

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



Những bản tin khác:



Lên đầu trang
Các bản tin mới đăng
TỪ BIỂN LÊN RỪNG - Bút ký của Ngô Xuân Huệ
Chùm thơ xuân của Trần Ngọc Ánh
Chùm thơ Đặng Hữu Trung
Thơ Dương Thuấn - song ngữ Tày Việt - P 3
Tập thơ "Tình ca Thiếu Khanh" - Phần 2
THƠ DƯƠNG THUẤN - (song ngữ Tày - Việt) P 2
Tập thơ “Tình ca Thiếu Khanh” - Phần 1
THƠ DƯƠNG THUẤN P1
Phạm Vĩnh Cư: Thưởng ngoạn tuyển tập Dương Thuấn
Phạm Ngọc Thái: Chùm thơ Khóc con
Tin cùng chủ đề
Me tây
Thung Lam
Chùm truyện ngắn Mini của Vũ Thanh Hoa
Lần đầu bên nhau ( phần 1)
Nguyễn Huy Hoàng - Tìm con, chăm bạn, làm thơ
I am đàn bà
Truyện ngắn mini - Đỗ Ngọc THạch
Lần đầu bên nhau (phần 3)
Lần đầu bên nhau (phần 2)
Tình qua tin nhắn
 
 
 
Thư viện hình