Tin tức  |  Diễn đàn  |  Thư viện hình  |  Liên hệ
Chủ nhật,
09.05.2021 04:33 GMT+7
 
 
Kho bài viết
Tháng Năm 2021
T2T3T4T5T6T7CN
          1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31            
 <  > 
Nhận thư điện tử
Email của bạn

Định dạng

Thành viên online
Thành viên: 0
Khách: 3
Số truy cập: 1391180
Tin tức > Trang Văn trong nước > Xem nội dung bản tin
Trương Công Dũng: Lưỡi dao -Truyện dài - Phần 1
[01.01.2019 22:00]
Trương Công Dũng đã từng trải qua những năm tháng ác liệt trên chiến trường miền Nam trước năm 1975. Ông xuất hiện trên văn đàn rất muộn, in một vài truyện ngắn, nhưng rồi từ bỏ chuyện sáng tác văn chương vì nhiều lý do khác nhau. Tuy nhiên, chỉ với vài truyện ngắn đầu tay, đã chứng tỏ ông là tay bút tài năng. Xin giới thiệu với bạn đọc một truyện đầu tay thật đặc sắc của ông: Lưỡi dao

Lời tác giả: Ngày mai là ngày giỗ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Xin mời các bạn đọc lại truyện ngắn "Lưỡi dao" tôi viết từ 32 năm trước. Nhờ truyện ngắn này mà tôi hân hạnh được làm quen với anh.

LƯỠI DAO

Những ngày đầu ở thôn Phước Quả tôi không “bắt rễ” vào được một gia đình nào cả. Trước khi phân công tôi về đây, Trần Quốc Nghĩa – đội trưởng đội công tác kiêm Chủ tịch Ủy ban Quân quản xã – cho tôi biết sơ bộ tình hình của thôn. Bằng một giọng trầm và chậm rãi, Nghĩa nói như đang đọc báo cáo thống kê:

- … Một phần trăm dân cư gốc công giáo Thừa Thiên vào lập ấp theo quốc sách dinh điền thời Ngô Đình Diệm. Một trăm phần trăm các gia đình có người tham gia ngụy quân, ngụy quyền. Toàn bộ dân trong thôn bỏ chạy theo quân ngụy rút vào thị xã Phước Long cho đến khi chấm dứt chiến sự mới trở về. Nhiều người chết và bị thương. Không có cơ sở cách mạng. Tư tưởng chống cộng rất sâu sắc.

Tôi nhìn ra ngoài sân. Trời nắng chang chang. Trong bầu không khí đục bụi đất đỏ, tôi hình dung ra một bức tường lớn bằng đá chắn ngang trước mặt. Tôi lẩm bẩm: - Khó quá…

Nghĩa làm như không nghe tôi nói, vẫn giọng đều đều:

- Ông về đó xây dựng chính quyền cách mạng. Hiện giờ chỉ có một mình ông. Bộ đội thì đóng quân ở sâu trong rừng. Trước mắt có lẽ ông nên thành lập một tổ du kích. Sẽ trang bị hai AR15 và một AK.

- Để làm gì? – Tôi hỏi.

- Nếu ông không cần thì thôi. – Nghĩa có vẻ hiểu ý, và động viên: - Tôi tin tưởng ở ông.

Tôi chia tay Nghĩa, khoác ba lô về thôn.

Thôn nhỏ. Dăm chục nóc nhà quây quần quanh một khu đất rộng ở giữa có nhà lồng chợ. Cảnh vật vắng vẻ đìu hiu. Nhà lồng chợ trống trải, không một bóng người. Vài cái sạp tre gãy đổ bám đầy bụi. Một cơn lốc nhỏ xoáy bốc rác rưởi và những cọng rơm trên sân.

Tôi có cảm giác như dân trong thôn đã kịp trốn hết vô nhà đóng kín cửa lại ngay trước khi tôi bước qua sân chợ. Không tiếng gà gáy. Không tiếng chó sủa. Phía sau dãy nhà đổ sập vì đạn pháo, nhà thờ của thôn còn nguyên vẹn, đứng sừng sững một cách bề thế với gác chuông im lặng cao vút. Một bầu không khí nặng nề đầy đe dọa đang chế ngự toàn thôn.

Tôi ngắm nghía hồi lâu, lựa chọn ngôi nhà vào loại khang trang nhất, bình tĩnh bước tới gõ cửa. Bên trong nhà vọng ra những tiếng thì thào rồi im bặt. Tiếp đến là tiếng lách cách của then khóa và cuối cùng cánh cửa cót két miễn cưỡng mở ra.

Một ông già ngoài sáu mươi, chắc là chủ nhà, cúi rạp mình:

- Xin kính chào ông. Thưa quý ông, quý ông cần chi ở bầy tui?

- Tôi được cấp trên cử về làm chủ tịch chính quyền cách mạng. Tạm thời xin được ở nhờ nhà bác. Chắc sẽ không làm phiền bác nhiều lắm đâu.

Tôi nói bằng cái giọng chắc nịch giống như ra lệnh nhưng trong bụng vô cùng lo lắng: Nếu như ngay từ nhà đầu tiên này mà người ta từ chối không cho tôi ở nhờ thì chắc chẳng còn gia đình nào dám chứa tôi cả. Không có gì đáng tiếc hơn là phải mắc võng ngủ ngoài vườn theo kiểu các cán bộ dân vận tài ba vẫn thường được tiểu thuyết mô tả.

- Xin mời quý ông vô.

Ông già nói lạnh nhạt, đứng tránh qua một bên. Và quay sang người con gái đang lấp ló nơi cửa bếp:

- Mi dọn giường cho quý ông đây nghỉ. Còn mi và mệ mi kể từ hôm nay xuống bếp mà ngủ.

Ông chủ nhà thuộc loại thạo đời. Ở vào hoàn cảnh này khó có thể tìm được một câu đuổi khách nào khác hay hơn. Ông ta toan bỏ đi nhưng tôi mỉm cười giữ lại:

- Còn một việc nữa. Cũng kể từ hôm nay, tạm thời bác làm đại diện cho nhân dân trong thôn. Mọi việc tôi sẽ bàn với bác. Trước hết, ngay bây giờ bác cùng các anh em đây… - Tôi đưa mắt về phía hai thanh niên vận đồ lính cộng hòa đứng ở góc nhà đang gườm gườm nhìn tôi – Các con bác phải không? Bác cùng với họ lập cho tôi danh sách đầy đủ tất cả các hộ gia đình trong thôn. Tên tuổi, nghề nghiệp, cấp bậc và chức vụ ở chế đô cũ. Bản danh sách ấy không được sót tên một ai, kể cả những người vắng mặt, và nộp cho tôi trước bảy giờ tối nay.

Tôi vừa nói vừa tháo ba lô ngồi xuống ghế. Ông chủ nhà bước tới trước mặt tôi nhăn nhó so vai:

- Thưa ông chủ tịch, xin quý ông thương, tui không thể làm đại diện cho dân ở đây được. Xin ông chỉ người khác.

- Đại diện cho dân thì ai làm mà chẳng được. Còn đây là lệnh. Ông đừng từ chối.

Rồi để mặc cho ông chủ nhà đứng ngây người vì cách đánh giá hết sức quái gở về chức vụ đại diện cho dân, tôi cúi xuống mở ba lô, lấy khăn mặt vắt lên vai. Trước những cặp mắt chăm chú của mọi người, tôi rút súng ngắn từ trong thắt lưng ra, đút cẩu thả vào ba lô, buộc lại rồi đứng dậy. Tôi đến bên người con trai lớn của ông chủ nhà – anh ta đứng cao hơn tôi gần một cái đầu – vui vẻ vỗ vai:

- Anh không từ chối chỉ chỗ cho tôi rửa mặt chớ?

- Mời ông! – Anh ta đáp cộc lốc rồi dẫn tôi đi.

Sau bữa cơm chiều vẫn chính anh chàng cao lớn ấy đem đến cho tôi một xấp giấy học trò ghi đầy đủ những mục tôi đã yêu cầu. Tôi đoán không sai: Trong bản danh sách lem luốc đầy lỗi chính tả đó, gia đình anh ta nổi bật bởi những chức vụ có thế lực nhất. Mấy anh em trai đều là sĩ quan bảo an và địa phương quân. Người anh rể vắng mặt hiện là thiếu tá của sư đoàn 25 bộ binh. Người con gái “phải xuống bếp ngủ” từng làm thư ký hội đồng xã.

Tôi hoàn toàn yên tâm. Bây giờ thì chẳng cần phải có hai AR15 và một AK của Nghĩa nữa. Ít ra thì những lúc tôi có mặt ở nhà, và nhất là về ban đêm, sự an nguy của gia đình này cột chặt với mạng sống của tôi. Ai chứ ông chủ nhà khôn ngoan kia chắc chắn chẳng chịu chơi dại đâu.

Nhưng đêm đó sự an tâm của tôi tan biến mất. Khi tôi vừa chợp mắt, những nhà xung quanh bắt đầu đọc kinh. Lần đầu tiên trong đời tôi nằm ngủ giữa xóm đạo và nghe buổi cầu kinh ban đêm.

Như được chỉ huy bởi một cái vẫy tay thần kỳ, những lời nguyện cầu đột ngột bùng lên đều khắp trong thôn. Có một cái gì đó vô hình nhưng dài lê thê bắt đầu cất mình lên khỏi những nóc nhà xác xơ, bay vào đêm tối. Nó bay là là trên mặt đất. Nó vật vã khóc lóc: lúc nức nở, lúc thổn thức. Bằng một giọng trầm và đục, nó ai oán rên rỉ, than vãn cho cuộc sống oan trái cay nghiệt của bao kiếp người. Rồi bỗng đổi giọng bay vút lên trên những cung bậc cao, nó van xin, cầu khẩn và hy vọng chứa chan. Cái bản hợp xướng đau buồn nghe chẳng rõ lời ấy chơi vơi, mênh mông; có lúc lặng đi tưởng chừng như sắp tan vào đêm đen, rồi đột nhiên xuất hiện ào ào, sầm sập. Rồi lại lặng đi như một hơi thở dài.

Nỗi hoảng sợ làm tôi như bị ngạt thở. Bằng một cử chỉ vô ý thức, tôi đưa tay cầm lấy khẩu súng ngắn để dưới gối. Những ngón tay tôi chạm vào khối thép lạnh ngắt. Ngay lúc đó tôi chợt hiểu ra một điều hết sức đơn giản: “Nếu muốn, người ta chỉ cần búng một cái mình cũng chết”.

Nhưng suốt đêm hôm đó không ai búng và tôi cũng chẳng chết. Tôi ngủ thiếp đi trong khi trái tim tôi đập nặng nhọc

*

Từ buổi sáng hôm sau cho tới mấy ngày tiếp theo, tôi lần lượt đi thăm và làm cái gọi là công tác dân vận ở khắp các gia đình trong thôn. Tôi đã đoán trước sẽ gặp nhiều khó khăn, nhưng thực tế còn phủ phàng hơn tôi tưởng. Mặc dù tôi đã vận dụng đến mức cao nhất mọi hiểu biết về phương diện tâm lý, những kinh nghiệm sống, thậm chí bắt chước theo những truyện tôi từng đọc, chỉ mong mỗi một việc là làm quen và nói chuyện cởi mở với một người nào đó. Nhưng tất cả đều vô ích.

Dân trong thôn mỗi khi gặp tôi đều vội vã chào hỏi rất cung kính. Nhưng khi tôi gợi chuyện thì họ trả lời gọn lỏn “Dạ bẩm ông, có!”, “Dạ thưa ông, không!”. Ngoài ra đố có thể moi ở miệng họ một câu nào khác hơn.

Có lần tôi thử ngồi im lặng hàng giờ để người tiếp chuyện phải buộc miệng thốt ra một câu gì đó. Nhưng mãi khi tôi hoàn toàn tuyệt vọng thì người ta mới chịu mở miệng ra. Và câu tôi nghe được là như thế này:

- Dạ thưa ông, xin ông cho phép tôi đi có chút việc.

Tất nhiên là sau đó chính tôi phải cút thôi.

Người ta thậm chí không nói chuyện với nhau khi có mặt tôi. Chỉ một lần duy nhất tôi hân hạnh được nghe một phụ nữ nói, mà chắc chắn là nói về tôi, khi tôi đi ngang qua nhà chị ta:

- Đồ chó! Sao trời không đánh chết hết tụi bây đi!

Chị liếc xéo tôi một cái rất nhanh, cúi xuống lượm hòn gạch bể ném về phía hai con chó đang gầm ghè cắn nhau.

Chó là loài gia súc duy nhất của thôn còn sống sót. Tất cả trâu bò heo gà đều chết sạch khi nơi đây xảy ra các trận đánh đẫm máu. Những con chó vắng chủ trở nên hoang dại, tụ tập thành từng đàn kéo nhau đi gặm xương người chết rải rác trong các khu vườn. Ban đêm chúng tru lên từng hồi ghê rợn, giống như tiếng hú của một lũ chó điên.

Tôi bất lực, bi quan và buồn bã.

Tôi hoàn toàn không có ai để chia sẽ nỗi khốn khổ của tôi. Đã mấy lần tôi tính đến chuyện mang ba lô trở về với Nghĩa. Nhưng như thế thì còn mặt mũi nào.

Cái buồn càng trở nên da diết hơn vào những buổi chiều cô đơn, khi hoàng hôn đang tắt dần trên những triền núi xa. Từng đám mây xám nặng nề giăng mắc ở chân trời. Tôi đứng một mình trên quãng đường dốc cuối thôn, lòng ngổn ngang trăm mối. Tôi đứng rất lâu, bất động, như muốn chờ xem khi tia nắng cuối cùng lóe lên lần chót, thì nhờ một sự kỳ diệu nào đó có thể làm nảy sinh trong đầu tôi một phương cách tốt đẹp khả dĩ kéo tôi thoát khỏi tình trạng bế tắc như hiện nay không.

Ý nghĩ thật viển vông. Gió chiều bắt đầu lồng lộn và khí lạnh của cao nguyên từ từ thấm qua lớp áo mỏng. Tôi muốn quay về, nhưng khi hình dung ra nét mặt cau có của ông chủ nhà, ánh mắt hằn học của những người con, ngọn đèn dầu âm thầm và nhất là khi nhớ tới buổi cầu kinh ban đêm, tôi không muốn cất bước nữa.

Phía dưới chân tôi đứng là một đoạn hào trú ẩn đã sạt lở. Đất ba-dan đỏ sẫm loang lổ như những vệt máu khô. Xa hơn một chút, ở nơi những cành cây bị đạn bắn gãy nhưng còn vương trên thân, đang đung đưa theo gió, có một cái hố nhỏ cỏ dập xác xơ. Chắc có một viên đạn pháo hoặc một trái lựu đạn đã nổ ở đây.

- Điều gì đã dẫn dắt những con người không hề quen biết nhau tìm đến nơi đây để tàn sát nhau kia chứ? Ai đã thổi bùng lên ngọn lửa căm thù cháy rần rật trên khắp mọi miền đất nước và đang âm ỉ với nhiệt độ không thể tưởng tượng được trong cái xóm đạo nhỏ bé kia – Tôi nghĩ thầm và ngồi xuống – Ta làm gì bây giờ?

Cho mãi đến tận lúc này, khi ngồi xuống, tôi mới chợt nhìn thấy ở góc đường hào có ba chân nhang đã tàn lụi. Trên đất lờ mờ một hàng chữ ai vạch nắn nót: “Con sẽ trả mối thù này”.

Tôi rùng mình. Hình như có một hơi thở nhẹ vừa lướt qua những ngọn cỏ. Cái gì vậy? Người ta đòi trả thù ư. Và chẳng lẽ cuộc trả thù bằng máu ấy lại sẽ xảy ra ngay ở nơi đây hay sao?

Đột nhiên dòng suy tư của tôi biến mất. Có một linh tính nào đó khiến tôi vụt đứng lên, quay phắt lại khi nghe một tiếng động rất nhỏ sau lưng.

Một cô gái chừng mười tám tuổi đứng cách tôi mấy bước. Trong ánh sáng bàng bạc của buổi hoàng hôn, mắt cô đỏ rực long lanh. Tay cô cầm một lưỡi dao nhỏ, sáng lấp loáng.

- Cháu muốn gì? – Tôi hỏi bằng giọng bình thản tới mức chính mình cũng tự ngạc nhiên.

- Tao muốn giết mày. – Cô gái trả lời cũng bình tĩnh như thế.

- Điều đó thì hơi khó. Không nên!

- Ai cho mày khuyên tao? – Giọng cô gái hơi run nhưng rất hung dữ.

- Cả cách nói cọc cằn thô lỗ đó nữa. Sẽ không ai khen cháu đâu.

- Mặc kệ tao!

Cô gái tái mét mặt, run bắn người. Hình như cô đang lưỡng lự không biết có nên liều lĩnh lao vào tôi với con dao nhỏ trong tay hay không. Lúc đó tôi mới có dịp quan sát. Đầu tóc cô gái rối bù, toàn thân bẩn thỉu, chân không mang dép, quần áo rách bươm. Một vết rách trên vai áo bị gió thổi lật qua lật lại.

- Tại sao cháu muốn giết tôi?

- Mày không cần hỏi…

Chưa dứt lời, cô vung dao lao thẳng vào tôi, hung hãn như một con thú dữ. Tôi né tránh, gạt lưỡi dao rớt xuống đất, đẩy cô ra. Cô đứng sững bất lực, nhìn tôi vô cùng căm tức.

- Đừng làm như vậy nữa. Nếu muốn giết tôi thì có nhiều cách lắm. Bây giờ thì chắc chắn không được đâu. – Tôi nói khẽ, có phần uể oải: – Cháu nên về nhà đi. Trời tối rồi. Tôi về đây. Cháu có cùng đi với tôi không?

Cô gái không nói không rằng, lùi ra xa tránh lối cho tôi. Sau mấy bước tôi dừng lại, hỏi rất thật thà:

- Tại sao cháu không nhờ người khác. Người lớn có thể làm được việc hơn cháu lắm chớ?

- Tao không muốn. Tao muốn chính tự tay tao. Và bằng cách này. Sẽ còn lần khác. Lạy Chúa! Lúc đó dù mày có van xin tao cũng không tha.

- Thôi được. Đó là ý muốn của cháu. Nhưng dù sao thì đây cũng là lần đầu tiên chúng ta gặp nhau. Tôi không thích tiếp tục những chuyện tồi tệ như thế này nữa đâu.

Tôi bỏ đi lòng tràn ngập nỗi buồn bã xót xa. Cho tới khi vào đến sân chợ, quay nhìn lại tôi vẫn thấy cái bóng nhỏ bé ấy đứng lặng như một pho tượng trên đầu dốc, in hình lờ mờ trên nền trời đã chuyển xanh đen.

*

Sau chuyện đó vài hôm tôi bắt đầu gặp vận may. Một lần sau buổi cơm chiều, ông chủ nhà tự tay pha trà mời tôi uống. Lần đầu tiên kể từ ngày về ở thôn này tôi mới thấy nét mặt ông có phần dễ chịu. Và điều kỳ lạ hơn là cô con dâu ông ta lại rang thêm một đĩa đậu phộng đặt lên bàn, mỉm cười mời tôi dùng.

- Sắp có chuyện gì đây. – Tôi nghĩ thầm, lặng lẽ hút thuốc, thong thả nhả khói bên ngọn đèn tù mù.

- Dạ thưa ông, tui xin thưa cùng ông một chuyện. Dạ, nếu ông nghe không phải, xin ông làm ơn bỏ qua cho. – Ông chủ nhà xoa tay, điệu bộ rất lấy làm long trọng.

- Xin bác cứ nói. Không nên khách sáo.

- Dạ thưa ông, chiều hôm trước ông đi chơi nơi quãng dốc cuối thôn, bầy tui lo lắng quá. Hiện giờ tàn quân còn nhiều trong rừng. Họ có thể bắn lén. Xin ông cẩn trọng cho.

Ông chủ nhà khôn ngoan thật. Nói ra vẻ tử tế nhưng cũng để dọa dẫm. Câu chuyện chiều hôm trước, dân trong thôn ai mà chẳng biết. Vì thế tôi trả lời thản nhiên:

- Cám ơn bác. Lần sau tôi sẽ thận trọng hơn.

Và chuyển sang giọng ân cần, tôi gợi ý:- Tôi ở đây đã lâu. Chẳng lẽ ngoài chuyện đó bác không còn chuyện gì khác để nói với tôi hay sao?

- Dạ, thưa có. Dạ, dạ… - Ông lúng túng rồi vội tiếp: - Dạ còn nữa chớ.

Tôi im lặng chờ đợi, tiếp tục nhả khói thuốc lá.

- Thưa ông, trưa nay bà con trong thôn có nhờ cụ trưởng họ đạo đến trình ông một việc nhưng lúc đầu cụ sợ, không dám nhận.

Tôi đoán có việc gì khá cấp bách đối với dân trong thôn. Không bỏ lỡ cơ hội, tôi hỏi:

- Về chuyện gì. Và cụ trưởng họ đạo hiện nay ở đâu?

- Dạ, cũng chẳng phải việc gì lớn lắm. Dân bầy tui nói hoài cụ mới nhận lời. Cụ vẫn còn sợ và đang chờ trong bếp.

- Sao bác không mời cụ ra ngoài này nói chuyện cho vui.

Ông chủ nhà quay vào bếp dẫn cụ trưởng họ đạo ra. Đó là một ông lão bảy mươi nhỏ bé hom hem. Ông nâng bộ râu dài, lập cập bước từng bước. Đến trước mặt tôi lão chắp tay xá một cái, run rẩy ngồi xuống ghế. Trong bộ dạng ông lão chẳng khác nào con chiên lành của Chúa đang phải đi gặp quỷ Sa-tăng. Ông lão phều phào:

- Dạ, kính bẩm ông. Xin ông tha tội nếu con lỡ dại làm ông giận. Việc này do bà con trong thôn sai con tới đây trình với ông chớ không phải do con tự nghĩ ra. Dạ, lỡ có gì xin ông làm phước bỏ qua.

- Xin mời cụ dùng nước. – Tôi cười, đẩy ly nước tới trước mặt người cai quản phần hồn của thôn – Có chuyện gì xin cụ cứ nói. Và xin cụ đừng xưng hô như vậy nữa. Tôi chỉ đáng tuổi con cháu của cụ thôi.

- Dạ bẩm ông, con xin cám ơn ông. Thưa ông, chắc ông cũng biết, chỉ còn vài ngày nữa là tới Tết. Hôm nay đã hăm tám rồi. Dạ, bà con sai con tới xin ông cho phép được kéo mấy hồi chuông nhà thờ vào chiều ba mươi, lúc giao thừa và sáng mùng một. Dạ, nếu ông vui lòng cho phép, bà con xin được tập trung ở nhà thờ vào sáng mùng một để làm lễ đầu năm.

Tôi đau lòng. Dân ở đây biết cộng sản vốn không ưa gì những người công giáo. Nhưng không ngờ họ sợ đến thế. Tôi nghiêm mặt:

- Ông làm trưởng họ đạo ở đây đã lâu chưa?

- Dạ, dạ… Cái này không phải do con nghĩ ra. – Ông lão hơi hoảng.

- Ông trưởng họ đạo. Tại sao ông không thực hiện các chủ trương, chính sách của Mặt trận Dân tộc Gỉai phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời?

Tôi đứng dậy. Ông lão ngửa người ra phía sau, há hốc miệng. Tôi có cảm giác ông lão sắp ngất vì sợ hãi. Ông chủ nhà vội vã bước tới đỡ lưng cụ trưởng họ đạo. Tôi nói tiếp một hơi rất nhanh:

- Ông có thấy trong các buổi họp dân tôi đã nhiều lần yêu cầu mọi người nhanh chóng ổn định mọi mặt sinh hoạt và đời sống. Ông là trưởng họ đạo ở đây, công việc của ông là lo phần hồn cho giáo dân. Tại sao trong những ngày qua ông không lo việc kéo chuông nhà thờ, không tổ chức cho bà con đi lễ. Chẳng lẽ tôi phải làm những việc đó thay ông hay sao? Hay ông vẫn cho rằng tôi là kẻ thù của các ông. Ông đã nghe hoặc thấy tôi cấm đoán điều gì về tín ngưỡng chưa. Ông nghĩ tôi là hạng người nào?

Tội nghiệp cho cụ trưởng họ đạo. Ông lão bàng hoàng ngơ ngác. Đến khi sực hiểu ra, nét mặt ông trở nên tươi rói. Bằng một cử chỉ không thể ngờ được, ông lão cầm tay tôi, nước mắt ràn rụa:

- Thưa ông, bầy tui xin đội ơn ông. Xin ông cho phép tui đi báo tin để bà con được mừng.

Không rời mắt khỏi tôi, ông lão bước lùi ra cửa, thoáng một cái biến mất vào trong bóng đêm. Quay sang ông chủ nhà chưa hết ngạc nhiên, tôi uể oải xua tay:

- Ông có biết tôi ngán ngẫm đến mức độ nào không? Lòng căm thù, sự hèn hạ, thái độ khúm núm kính cẩn giả tạo… Tất cả những cái đó đem lại cho các ông lợi ích gì chớ? Ông thừa biết rằng trong những ngày qua tôi rất muốn nói chuyện với các ông, muốn tâm tình với bà con trong thôn. Nhưng bây giờ tôi không muốn nói thêm điều gì nữa đâu. Các ông phải biết rằng cuộc sống bình yên và tương lai của cả thôn này nằm trong tay mọi người dân ở đây. Tùy các ông đó.

Tôi khoát tay, bỏ đi ra ngoài sân. Ông chủ nhà theo sát sau lưng: - Chúng tôi thật có lỗi với ông. Xin ông bớt giận cho…

Chưa bao giờ tôi ngủ ngon như đêm hôm ấy. Trước khi chợp mắt tôi hoàn toàn không nghĩ ngợi thêm điều gì. Đầu óc tôi nhẹ nhàng thanh thản mặc dù bên ngoài trời tối đen như mực và gió lạnh không thôi rú rít trên các mái nhà.

*

Từ hôm sau thái độ dân trong thôn đối với tôi khác hẳn. Kèm theo những câu chào hỏi đã có thêm nụ cười. Nhiều người mời tôi đến nhà chơi. Cả thôn cùng tôi lo chuẩn bị Tết.

Kể cũng buồn. Trong đời tôi chưa từng chứng kiến cảnh đón Tết nào nghèo như ở Phước Quả năm ấy. Phần lớn lương thực và tài sản của các gia đình đều bị mất trong lúc loạn ly. Mọi người rầu rĩ, nhất là thanh niên. Họ ngồi tụm năm tụm ba buồn bã nhắc lại những kỷ niệm của các Tết trước. Tôi gấp rút tập họp họ lại, thành lập ngay chi hội thanh niên. Nhiệm vụ đầu tiên là lo tổ chức Tết cho cả thôn.

Đêm liên hoan tất niên tổ chức ở nhà lồng chợ. Dân trong thôn tới dự không thiếu một ai. Tất nhiên thôi, trước những tổn thất, những nỗi đau buồn và sự nghèo nàn, người ta dễ gắn bó với nhau hơn. Ba đống lửa lớn cháy rừng rực, soi sáng cả sân chợ. Đám con nít với tính hồn nhiên không thể mất được của chúng bắt đầu đùa giỡn, hò reo. Người lớn nhìn chúng cũng vui lây. Những nụ cười làm cho các khuôn mặc hốc hác khắc khổ trở nên nhẹ nhàng, thanh thản hơn.

Tôi phát biểu vài câu ngắn gọn để khai mạc rồi đề nghị thanh niên ca hát. Họ hưởng ứng ngay. Cuộc vui trở nên tưng bừng náo nhiệt. Những lời ca bay trong đêm. Những cơn đau dịu bớt, những nỗi buồn lắng xa. Tôi đang ngắm nhìn nét mặt từng người qua ánh sáng bập bùng của đống lửa chợt một cô bé ngồi bên cất giọng buồn rầu: - Ôi, phải có Maria Nguyệt ở đây thì hay biết bao!

- Nguyệt nào? – Tôi ngạc nhiên hỏi. Mấy thanh niên ngồi gần đó vụt sa sầm mặt. Một người mau miệng đỡ lời:

- À, một con nhỏ trong thôn. Nó theo gia đình di tản về Sài Gòn từ khi mới thất thủ Đồng Xoài. Thôi, kệ nó. Nghĩ đến nó mà làm gì.

Tôi cảm thấy có một cái gì đó không ổn. Người ta đang nói dối và cố dấu tôi chuyện gì. Tôi chợt nhớ tới cô gái tôi gặp trên quãng đường dốc chiều hôm trước. Từ bữa đó tôi không gặp lại cô, và cô cũng không có tên trong danh sách các hộ dân trong thôn.

Tình cảnh cô ta ra sao? Vì sao cô căm thù chúng tôi đến như vậy. Đêm nay cô đang làm gì, ở đâu? – Tôi nghĩ thầm – Cô ta hẹn gặp lại mình. Chẳng lẽ cái chuyện đau lòng ấy sẽ còn tiếp diễn nữa sao?

Tôi cố xua đuổi nhũng ý nghĩ phiền muộn để trở lại với cuộc vui. Nhưng hình ảnh cô gái với đôi mắc rực lửa căm thù vẫn cứ hiện lên trước mắt tôi. Hình như cô vẫn quanh quẩn đâu đó, trong bóng tối xa xa kia. Tôi nào biết lấy gì để làm dịu đi nỗi đau trong lòng người con gái ấy.

Đêm liên hoan kéo dài đến gần sáng. Không ai muốn rời khỏi cuộc vui để trở về nếp nhà cô quạnh của mình.

Sáng hôm sau khi tôi còn ngủ thì cụ trưởng họ đạo trở lại. Lần này cụ tỏ ra thân mật hơn. Cụ nói rằng bà con trong thôn mời tôi đến nhà thờ dự lễ với họ. Tôi nhận lời và đi theo ông lão.

Nắng chênh chếch trải vàng trên đồi núi và trong những khu vườn. Tháp chuông cao vút của nhà thờ trở nên lộng lẫy hơn trong nắng. Từ nơi đó tiếng chuông đổ hồi ngân nga, bay trên những nương rẫy xanh rì, âm vang đến tận những cánh rừng và những triền đồi xa.

Tới nhà thờ, tôi đứng ở phía sau, lặng lẽ nhìn giáo dân làm lễ. Điều khiến tôi hết sức ngạc nhiên là những bài thánh ca do tốp nữ của thôn hát mới hay làm sao. Nó tươi mát như bắt đầu một ngày mới, nhẹ nhàng như một tấm lụa trắng và mỏng, dịu dàng uyển chuyển như những thiên thần có cánh đang đưa tay trên các cung đàn. Chắc chắn những người hát đang ấp ủ trong lòng mình những ước mơ thiêng liêng nên mới có thể hát hay đến như vậy.

Cuối buổi lễ, cụ trưởng họ đạo nói với giáo dân:

- Kính thưa bà con. Nhờ ơn trên nên bà con thôn ta được tự do, yên ổn làm lễ trọng đầu năm. Mọi năm chúng ta có cha làm lễ và giảng đạo. Nhưng năm nay cha bỏ về Sài Gòn… Vì vậy – cụ trưởng họ đạo hơi ngập ngừng – thôi thay vì có cha giảng đạo, chúng ta kính mời ông chủ tịch lên dạy mấy lời đầu năm cho bà con trong thôn.

Tôi thoáng bối rối vì không ngờ cơ hội lớn đến thế. Ông chủ tịch chính quyền cách mạng – người Việt cộng ngoại đạo – lại được giáo dân mời thay cho cha đạo rao giảng những lời đầu năm thì quả là chuyện xưa nay hiếm. Nhưng nếu quá lạm dụng thì không khéo sự việc lại trở nên khôi hài. Vì thế tôi chỉ nói ngắn gọn vài phút, nhắc lại các chính sách của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Tôi động viên bà con mau chóng ổn định đời sống để bắt tay vào sản xuất, và chúc mọi người một năm mới hạnh phúc.

Thế là tôi bắt đầu nhập cuộc.

*

Tôi bận túi bụi, ngập mũi trong công việc. Nhiều tuần lễ trôi qua và một cơ chế thôn giải phóng đã hình thành với chính quyền, các đoàn thể và lực lượng du kích. Những người phụ trách không phải theo kiểu “ai làm mà chẳng được”, mà do đại hội nhân dân bầu ra. Họ là những người có uy tín, có năng lực nên lãnh đạo nhân dân thực hiện các công tác của chính quyền rất hiệu quả.

Nhiệm vụ chính của tôi là giáo dục chính trị tư tưởng cho nhân dân, đặc biệt chú trọng đối với thanh niên. Thật ra trên đời này chẳng có gì nghe sướng tai hơn là các bài giảng tuyên truyền về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Thanh niên rất thích. Họ không ngờ cái xã hội tương lai mà tôi chưa hề được thấy nhưng lại mô tả vẻ vời rất chi tiết cũng tốt đẹp không khác thiên đường của Đức Chúa Trời là mấy.

Những người già tỏ ra thận trọng hơn. Họ nói: - Bầy tui mong chính quyền cách mạng làm đúng những điều như ông đã giảng. Nếu được như vậy thì phúc đức cho bầy tui biết chừng nào.

Họ chú ý theo dõi mọi bước đi, thái độ và cách làm việc của tôi. Ngược lại tôi cũng hết sức thận trọng. Tôi hiểu rằng mọi sai lầm dù rất nhỏ cũng đều có thể dẫn đến những hậu quả tai hại không lường hết được. Cũng may ở đây không ai biết rằng tôi chỉ là một kỹ sư được điều động tham gia đoàn công tác tiếp quản Phước Long chứ không phải là cán bộ chính trị chuyên nghiệp. Lần đầu tiên trong đời tôi phải đi làm cái công tác dân vận quái quỷ này.

Tôi thao thức nhiều đêm. Trong những lúc suy nghĩ căng thẳng về công việc, thỉnh thoảng tôi lại nhớ đến cô gái đầu bù tóc rối với con dao nhỏ sáng loáng. Tôi muốn gặp lại cô, hay ít ra cũng hiểu biết được thêm chút gì về cô. Hình như cô sống đâu đó quanh đây và luôn dõi sát theo tôi. Một lần đang giảng bài cho thanh niên trong sân trường tiểu học đổ nát bên cạnh khu vườn, tôi chợt có cảm giác như ai đang rình nghe ở bụi rậm gần đó. Khi tôi quay sang nhìn chỉ thấy một bóng nhỏ thấp thoáng rồi biến mất. Tôi muốn hỏi thăm về cô gái nhưng chưa có dịp. Hơn nữa dân trong thôn chắc chắn chưa muốn cho tôi biết rõ sự thật.

Nhưng dù sao cô cũng đã hẹn gặp lại tôi. Và cô giữ đúng lời hứa.

Hôm đó một người dân trong thôn đến xin phép tôi được bán một con bò cho những người hàng thịt ở thôn bên cạnh. Con bò này ông ta gởi nhờ dân Stiêng ở sóc Thượng nuôi từ trước ngày giải phóng nên may mắn còn sống sót. Tôi hỏi ông ta:

- Bác bán bao nhiêu?

- Thưa ông, bảy chục ngàn.

- Vậy bác về dắt bò lại đây.

Người chủ bò lo lắng. Tôi hỏi chi hội trưởng thanh niên:

- Nếu làm thịt bán giá rẻ, được bao nhiêu?

Anh ta trả lời không suy tính: - Không dưới một trăm ngàn.

- Ngày mai anh tập trung thanh niên lại. Nam xẻ thịt, nữ đem đi bán. Được không?

- Xong ngay thôi! – Anh ta vui vẻ, tỏ ra mừng vì có dịp được giúp ông chủ tịch. Còn tôi quay sang người chủ bò:

- Tôi mua con bò này, trưa mai tôi trả tiền.

Ngày hôm sau vụ mua bán diễn ra rất gọn. Chưa đầy một giờ con bò đã biến thành đống thịt lớn. Các cô gái chẳng cần phải đem đi đâu xa. Dân trong thôn thừa tiền nhưng thiếu thức ăn chỉ trong chốc lát đã mua hết ngay. Xong xuôi, các cô đếm tiền. Vừa chẵn một trăm năm chục ngàn.

Mọi người tin chắc ông chủ tịch đang rất phấn khởi vì kiếm được món tiền lớn. Nhưng tôi không hề đụng tay đến xấp tiền để trên bàn. Tôi hỏi ông chủ bò đang thấp thỏm:

- Hôm qua bác nói giá bao nhiêu?

- Thưa ông, nếu bán cho người khác tôi lấy bảy chục ngàn. Còn bán cho ông tôi xin để rẻ hơn.

- Được thôi. Bác chịu khó bán rẻ một chút nghe. – tôi mỉm cười – Tiền kia. Bác đếm đủ một trăm ngàn, còn thì để lại đó.

Chủ con bò cười tươi rói. Ông ta nói vài câu từ chối chiếu lệ rồi vội vã đếm tiền. Ông ta luôn miệng cám ơn còn những người xung quanh tấm tắc khen: - Ông chủ tịch tốt bụng quá!

Khi mọi người sắp giải tán, chi hội trưởng thanh niên nhắc tôi:

- Kìa chú cất tiền đi chớ.

- Tiền nào ? - Tôi hỏi.

- Thì năm chục ngàn tiền lời của chú chớ còn tiền nào.

- Sao lại là tiền của tôi? – Tôi nheo mắt. Chi hội trưởng thanh niên không hiểu ý tôi muốn gì. Tôi vỗ vai anh ta:

- Tôi có đụng tay vào việc này đâu?

- Vậy thì tiền này là của ai?

- Của tất cả những ai tham gia buổi lao động hôm nay. Hay đúng hơn thuộc về quỹ chung của chi hội thanh niên. Đừng cãi nữa. – Tôi ngăn không cho chi hội trưởng thanh niên phản đối – Anh cử một người làm thủ quỹ cho chi hội rồi làm giấy biên nhận đi.

Tôi yêu cầu mọi người giải tán để tránh khỏi nghe những lời khen nịnh sắp được dịp bùng lên. Nhưng khi mọi người vừa đi khỏi bỗng một giọng trong veo nhưng hết sức cộc cằn đập vào tai tôi:

- Lại bày trò đạo đức hả?

Tôi giật mình quay phắt lại. Cô gái ấy. Đúng là cô ta.

Cô gái mặt mũi lem luốc dựa lưng vào cột nhà đang hầm hầm nhìn tôi. Cô chen lẫn vào đám đông tới đây từ lúc nào không ai hay.

- Tại sao mày không lấy tiền? – Cô hỏi bằng giọng của quan tòa.

- Còn tại sao cháu lại ở dơ thế này?

Cô gái không ngờ bị hỏi như thế nên lúng túng. Cô đỏ mặt giận dữ:

- Ai cho phép mày chê tao?

- Không phải chê. Chỉ hỏi thôi. Giống như cháu vừa hỏi tôi vậy.

- Giống sao được. Mày là một thằng Việt Cộng, còn tao là…

- Là ai?

- Là một con điên! – Cô gái vụt rú lên cười sằng sặc và tìm cách tiến lại gần tôi.

Tôi nhìn thẳng vào mắt cô. Cô ngó lại trừng trừng không chớp. Cô bắt đầu lảm nhảm:

- Mày là một thằng đạo đức. Ha ha …! Còn tao… ha ha, tao là một con điên. Này, thằng Việt Cộng đạo đức kia, mày có dám nói chuyện với con điên không? Ha ha!... lại gần đây. Mày có dám lại gần tao không?

Không rõ vì cố ý hay vì đang sống trong cảnh nghèo khổ thật sự, tấm áo cô mặc hầu như đã rách nát. Hai hột nút cổ đứt tung và chỗ đó có thể nhìn thấy gò vú nhỏ nhắn, trắng và rắn chắc.

- Đạo đức thì không khó. Nhưng điên như cháu có khó lắm không?

Cô gái đứng sững lại. Khoảng cách giữa tôi và cô chỉ còn chừng một thước. Cô hơi động đậy như sắp sửa rút dao. Còn tôi cũng sẵn sàng vung tay gạt ra.

Có tiếng chân người bước nhanh. Chi hội trưởng thanh niên ập vào như một cơn lốc. Anh ta nhào tới nắm vai cô gái đẩy rất mạnh và quát lớn:

- Con khùng, ai cho mi vô đây?

Trong tích tắt đó tôi bất chợt bắt gặp ánh mắt anh ta nhìn cô gái hết sức dịu dàng. Tôi hiểu ngay là anh đang phải đóng vai trong một vở kịch không được chuẩn bị trước. Tôi giữ tay anh ta lại:

- Đừng xô cô ấy như thế. Anh không thấy chúng tôi đang nói chuyện với nhau hay sao? Thật ra thì chúng ta vẫn hiểu nhau nhiều hơn anh tưởng đó, người anh em ạ.

Cô gái vụt ôm mặt khóc tức tưởi rồi bỏ chạy. Tôi ngồi xuống ghế. Chi hội trưởng thanh niên lấm lét nhìn tôi. Tôi nói với anh ta:

- Từ nay anh và chi hội cố giữ cô ta ở lại trong thôn, đừng để đi lang thang nữa. Còn lần sau nếu gặp chúng tôi đang nói chuyện, anh nhớ đừng can thiệp nữa nghe.

*

Những ngày sau đó cô thường xuất hiện trong thôn. Nhưng mỗi khi thoáng thấy bóng tôi cô lập tức tránh ngay. Ban đêm cô ngủ ở đâu tôi cũng không rõ. Tôi thử hỏi thăm vài người nhưng ai cũng cố tính trả lời cho qua chuyện: “Ôi, con nhỏ đó bị khùng từ nhiều năm nay. Chú quan tâm làm gì”

Tôi không ngây thơ đến mức có thể tin lời họ. Tôi bị ám ảnh bởi người con gái ấy. Nhưng thật là lạ. Khi nghĩ về cô tôi không còn nhớ tới đôi mắt đỏ rực căm thù và lưỡi dao sáng loáng nữa. Tôi chỉ thấy bóng dáng đó xanh xao và u buồn. Cô mở to mắt nhìn tôi. Đôi mắt chứa đựng tất cả những điều bí mật đầy đau khổ.

Tôi phải tìm hiểu cho ra chuyện này. Trong khi đó cuộc sống mới ở thôn Phước Quả đã bắt đầu những bước đi đầu tiên đàng hoàng chững chạc. Và chính bản thân tôi cũng bị cuốn hút vào nhịp sống của nó.

Nhờ số tiền lời của lần bán bò mà chi hội thanh niên có một ngân quỹ khá lớn. Tôi tìm cách tổ chức cho thanh niên đào củ mì ở các rẫy bỏ hoang, bán cho chính quyền để cứu trợ các vùng bị đói. Chẳng bao lâu tiền quỹ đã lên tới hơn một trăm ngàn.

Lúc đầu không ai biết dùng số tiền đó để làm gì. Có tiền chỉ để ngó thì thật vô lý. Nhưng một hôm có chị phụ nữ đến xin tôi mấy viên thuốc cho các cháu nhỏ bị sốt rét. Chị than thở rằng trạm xá xã khám bệnh miễn phí còn thuốc phải mua mà nhà chị nghèo quá. Tôi nghĩ được cách giải quyết.

Tôi họp thanh niên, hỏi họ liệu có thể lấy quỹ của chi hội để thanh toán tiền thuốc men cho dân trong thôn được không. Câu hỏi đó là thừa, vì đối với ai chứ đối với những thanh niên trẻ trung này, lòng dạ họ còn trong sáng quá, những việc nghĩa cử như thế có bao giờ lại bị từ chối.

Hồi đó chưa ai dám ăn hối lộ nên việc thanh toán tiền thuốc cho dân khá đơn giản. Tôi chỉ việc dặn trạm xá xã mỗi khi bán thuốc cho dân phải ghi hóa đơn để chúng tôi thanh toán. Thanh niên thôn tôi lấy làm hãnh diện về việc này lắm.

Rồi chính chi hội thanh niên đề xuất việc mua sách vở giấy mực cho các cháu học sinh cấp I khi ngành giáo dục cách mạng khai giảng lớp học. Trường cũng do họ xây dựng, sơ tán ven rừng đề phòng bị ném bom. Mấy tay thanh niên làm ẩu nên nhà mới dựng lên đã bị sập. Các cụ già trong thôn chửi cho họ một trận và chất vấn tôi: “Việc xây dựng trường học vì lợi ích chung của nhân dân, sao ông chủ tịch không cho bọn già bầy tui tham gia, cái đám thanh niên ấy chỉ được cái sức vóc trâu bò chớ đâu biết gì mà đòi làm nhà!”.

Tất nhiên ngay sau đó thôn có được một trường học rất đẹp và chắc chắn.

Cô gái kỳ lạ kia tham gia tất cả các sinh hoạt của thanh niên trong thôn, trừ những lúc có mặt tôi. Khi đang làm bất kỳ việc gì, thấy tôi tới, cô lập tức quay lưng bỏ đi. Những lúc ấy tay chi hội trưởng thanh niên tỏ ra hăng hái, hò hét động viên mọi người, làm ra vẻ có quyền lực lắm. Nhưng tôi biết rất rõ khi vắng mặt tôi, quyền lãnh đạo thuộc về cô gái ấy. Cô gần như có uy tín tuyệt đối với thanh niên trong thôn. Tất cả các công tác của chi hội không có tôi tham dự đều được cô chỉ huy thực hiện, hoàn tất rất chu đáo.

Có lần tôi bắt gặp cô hát với tốp nữ của thôn. Giọng cô không lẫn vào đâu được. Nó ngọt ngào một cách buồn thảm, pha quyện niềm khao khát và nỗi ưu tư. Tôi đứng khuất trong bóng đêm lặng lẽ nhìn cô. Khuôn mặt cô trong ánh lửa đêm hoàn toàn không giống những lần chúng tôi đối diện nhau. Khuôn ấy dịu hiền và rất đẹp.

*

Cụ trưởng đạo – người đã mở cho tôi “cánh cửa nhỏ” để vào thôn Phước Quả – thật ra là một ông lão rất tốt bụng và hiểu biết nhiều. Những lúc rảnh rỗi vào buổi tối tôi thường tới nhà ông uống trà và trò chuyện. Tôi mượn sách đạo và kinh thánh tranh thủ nghiên cứu thêm. Ông lão không biết tôi đọc để làm gì nhưng rất thích thú. Ông hay hỏi tôi về chủ nghĩa cộng sản, các nguyên lý và các vấn đề thuộc về đạo đức. Có lần sau khi nghe tôi trình bày xong, ông lão trầm trầm nhận xét:

- Vậy nếu trừ cái chuyện một bên tin có Đức Chúa trời có thánh thần và ma quỷ, còn bên kia thông tin ra, thì nói chung cả người Công giáo lẫn cộng sản và cả Phật giáo nữa, cũng đều khuyên người ta làm việc thiện, việc tốt, bỏ việc ác, làm lành tránh dữ. Chỉ khác một điều thôi…

- Điều gì?

- Công giáo và Phật giáo khuyên người ta chịu khổ, cam phận bị đọa đày để được đền bù ở Thiên đường hoặc cõi Niết bàn. Còn Cộng sản các anh kêu gọi mọi người chiến đấu hy sinh cho một tương lai tốt đẹp của các thế hệ mai sau. Nhưng thế hệ nào mới được kia chứ?

Tôi giật mình, nhìn thẳng vào mắt ông già. Đôi mắt sâu nhỏ đầy nếp nhăn như chỉ hé mở. Ông lão gật gù thì thầm: - Bầy tui chỉ là dân…

Tôi có cảm giác như ông muốn nói thêm “điều gì mà dân lại chẳng biết”. Nhưng ông chỉ lẩm bẩm: - Ai nói sao bầy tui hay vậy thôi.

- Còn lòng tin? Chúng ta đều có lòng tin. Nhưng một bên dùng lòng tin để chịu đựng còn một bên dùng lòng tin để chiến đấu. Thiếu lòng tin con người làm sao sống nỗi.

Cụ trưởng họ lão lặng thinh. Bên ngoài trời tối đen như mực. Gió từ trên các triền núi xa tràn xuống cánh đồng, thổi hun hút. Gió khuya bao giờ cũng mang theo mùi cỏ dại ẩm ướt và hăng sè. Đống lửa ai đốt ban chiều ngoài sân chợ lúc cháy âm ỉ, lúc bùng lên nổ lách tách, tung vào trong đêm vô số đốm sáng nhỏ li ti. Một con chim ăn đêm vỗ cánh bay qua, cất tiếng kêu ảo não.

Ông lão uống thêm một hớp trà, khẽ thở dài rồi bất chợt hỏi tôi:

- Anh có giận Maria Nguyệt không?

- Nguyệt nào? – Tôi ngạc nhiên.

- Cái con khùng mấy lần tính đâm anh đó. Tội nghiệp! Anh đừng giận nó. Nó không phải điên khùng gì đâu. Nó tốt lắm. Anh nó thấy rách rưới, lem luốc, bẩn thỉu, nhưng lòng dạ nó trong sáng lắm. Ba con thôn ni ai cũng thương nó. Tội nghiệp! Nó là thiên thần mắc đọa. Anh không thể hiểu được đâu.

Tôi im lặng. Ông lão rầu rĩ ho. Một lát sau ông bắt đầu kể:

- … Hồi ba má và bà nội con Nguyệt mới lên đây lập nghiệp, má nó đang có bầu. Khi sinh nó ra, chính tui đặt tên thánh cho nó là Maria. Lạy Đức Mẹ đồng trinh. Xin người hãy thương xót và che chở cho đứa con gái khốn khổ mang tên Người.

Hồi đó con nhỏ mới dễ thương làm sao. Đôi mắt nó to tròn và trong sáng như đôi mắt một con chim non. Mũi nó cao, cái miệng nó nhỏ xíu và đỏ tươi như một nụ hoa. Nước da nó trắng như bông lài chứ không phải đen đúa như bây giờ. Nó giống mẹ nó như đúc.

Chị Lan má nó thiệt đẹp. Dáng người thon thả thanh tú. Nghe đâu hồi chưa lấy chồng, chị làm vũ nữ ở Sài Gòn. Chị nói chuyện dịu dàng và hát rất hay. Lúc đó tui ở trong thị xã, gia đình con Nguyệt ở liền sát vách. Chị Lan làm chiêu đãi viên cho một nhà hàng, còn anh Tư chồng chị làm công cho một tiệm đóng giày. Hai vợ chồng sống với nhau yên ấm, hạnh phúc lắm.

Con Nguyệt và bà nội nó hay qua nhà tui chơi. Nó rất thích nghe tôi kể sự tích các vị Thánh, giống như tui kể cho anh mấy bữa vừa rồi. Lạy Chúa! Có ai khuyên bảo nó điều gì đâu mà nó tự nói rằng lớn lên nó nhất định sẽ không lấy chồng, để dâng mình cho Đức Mẹ. Chao ôi, anh có biết bên công giáo bầy tui một lời hứa với Đức Mẹ nghiêm trọng đến mức độ nào không? Chẳng lẽ bề trên đã khiến cho nó nói lên điều đó hay sao?

Nhưng rồi bỗng đâu tai họa đột nhiên đổ xuống gia đình nó.

Một hôm có đám lính ngoại quốc kéo vào thị xã, đến nhà hàng nơi chị Lan phục vụ để ăn nhậu. Chúng say rượu, cưỡng bức các tiếp viên. Chị Lan chống cự đến cùng, bị chúng đánh chết. Thê thảm lắm.

Dinh trưởng gởi ba con Nguyệt năm chục ngàn, nói là để chia buồn. Bọn họ quen dùng đồng tiền để mua sinh mạng con người, mua phẩm giá, danh dự và hạnh phúc nhỏ nhoi của những người nghèo khổ. Đồng tiền là như thế đó anh ạ. Tui thấy anh coi rẻ đồng tiền quá. Như thế thật là tốt. Cách mạng dạy anh như thế phải không. Nhưng được bao lâu kia chớ? Rồi đây đến ngày đất nước thanh bình, anh sống trong gia đình có vợ có con, anh lại phải cần đến đồng tiền mất thôi.

À, mà tui kể tới đâu rồi nhỉ. Phải rồi, tui nhớ ra rồi. Ba con Nguyệt là người nhu nhược. Trong cơn đau buồn và tủi nhục, anh tìm cách lãng quên bằng khói thuốc phiện. Năm chục ngàn đồng biến thành khói độc tiếp tục tàn hại cuộc đời ảnh. Con Nguyệt và bà nội có cùng tui hết lời khuyên can nhưng cũng chẳng an thua. Con người bất hạnh ấy ngày càng ốm o còm cõi và cuối cùng chỉ còn chờ chết.

Nhưng số ba con Nguyệt không chết vì ma túy. Hồi Mậu Thân Việt cộng các anh pháo kích vô, nhà con Nguyệt trúng đạn, ba nó chết liền tại chỗ. Trong vòng hai năm con Nguyệt chịu hai cái tang: mẹ chết vì quốc gia, cha chết vì cộng sản. Nó thành ra đứa mồ côi. Chỉ còn hai bà cháu ôm lấy nỗi đau khổ nương tựa vào nhau. Tội nghiệp!

Tui năm nay ngoài bảy mươi rồi. Sống như vậy đã là nhiều nhưng chưa tùng thấy gia đình nào tang thương đến như vậy. Sao những người lương thiện cứ phải bị đày đọa như thế. Khi chị Lan mất, tui dự lễ rửa tội cho chị ấy. Tui đọc lời kinh cầu nguyện “cầu Chúa ban phước lành cho An-na này được lên thiên đàng và sánh cùng các bậc thánh thần, A-men!”. Nhưng linh hồn chị ấy đi đâu tui không thể biết. Nỗi đau cuối cùng trong đời chị có dịu đi hay không nào có ai hay. Còn chồng chị nữa, cái linh hồn đau đớn và yếu đuối của anh ấy được ngơi nghỉ chốn nào?

Tui ngán ngẫm sự đời. Hồi đó người ngoại quốc vô nhiều. Ai sống chụp giựt thì giàu sang được người đời trọng vọng. Còn ai giữ bản sắc đạo lý dân tộc Việt Nam thì thành ra thủ cựu lạc hậu. Ở thị xã riết rồi làm ăn không nỗi, tui dời về thôn Phước Quả ni. Chỗ láng giềng sống với nhau nhiều năm, lại chứng kiến cảnh nhà con Nguyệt như vậy, tui đưa hai bà cháu nó đi theo luôn.

Con Nguyệt càng lớn càng giống mẹ. Nó đẹp dịu dàng nhưng đôi mắt thì rất buồn. Nó hiền lành chăm chỉ, chịu khó làm ăn. Mới từ thị xã về nó đã đi làm ruộng rẫy với chị em chúng bạn, không thua kém ai. Ai có công chuyện chi nhờ tới, nó đều sốt săng giúp đỡ thành ra ai cũng thương. Khi nó lớn, đám thanh niên nhiều đứa mê, nhưng khi ngó vô khuôn mặt trang nghiêm buồn như ảnh Đức Mẹ của nó, không đứa nào dám suồng sã cả.

Hai bà cháu sống với nhau trong căn nhà nhỏ gần quãng dốc cuối thôn. Con Nguyệt ban ngày làm ruộng rãy, ban đêm cùng đám con gái vô nhà thờ ca hát. Nó thích hát thánh ca hơn những bản tình ca. Chao ôi, trong cảnh đời địa ngục này, mỗi khi nghe tiếng nó hát tôi tưởng chừng như thiên đàng đang xích lại gần.

Có lần tui hỏi nó đã thương ai chưa. Nó cười, lắc đầu và thở dài: - Con đã dâng mình cho Đức Mẹ rồi. Chắc đến khi con bắt đầu biết yêu thì cũng là lúc con sắp được trở về với Mẹ đó thôi.

Anh lấy làm lạ lắm phải không? Những điều tui kể về con Nguyệt không giống như những lần anh gặp nó phải không? Đời thay đổi lắm, anh ạ. Anh có thấy đôi lúc cuộc đời như kéo dài lê thê, buồn chán, tẻ ngắt, tưởng chừng như không bao giờ thay đổi. nhưng rồi bổng nhiên chợp mắt một cái, đã đảo lộn, đổ sập. Rồi một cái gì đó mới mẽ, khác thường bỗng xuất hiện. Có khi cái mới là điều lành chuyện tốt. Nhưng cũng có khi lại đau khổ tai ương. Ai mà biết trước được.

Cũng như sau khi có hiệp định Pari, bày tui cứ tưởng đất nước đã được yên hàn. Nào ngờ vẫn còn chiến tranh, tàn phá, chết chóc. Đám lính cộng hòa phải hành quân liên miên, giành dân lấn đất theo mệnh lệnh tràn ngập lãnh thổ của tổng thống Thiệu. Rồi các anh đánh vô đây.

Các anh đánh tới Bù Đăng, Đồng Xoài thì không ngày nào không có gia đình vợ con binh sĩ cộng hòa chạy qua thôn này về trong thị xã. Người ta đồn đại đủ chuyện: nào là Giải phóng chặt đầu binh lính cộng hòa bị thương, mổ bụng moi gan con nít, hãm hiếp phụ nữ, đóng đinh người già lên cây thánh giá… Bầy tui là dân đạo, xưa nay có gặp các anh lần nào đâu. Ai nói sao hay vậy thôi.

Bà nội con Nguyệt cũng vậy. Ngày nào bả cũng chạy qua nhà tui hỏi: “làm sao bây giờ ông ơi. Lũ quỷ Sa Tăng Cộng sản ấy sắp kéo tới nơi rồi. Làm sao mà thoát khỏi tay chúng?”. Bà nội con Nguyệt hiền lành, mộ đạo lắm. Rồi bả sợ qu sinh bệnh, nằm liệt một chỗ, suốt ngày không ngớt miệng hỏi như mê sảng: “Tới chưa, tới chưa?” Bà lão bảy mươi hai tuổi rồi.

Tui biểu con Nguyệt ra thị xã mua thuốc. Nhưng nó chưa kịp về thì các anh đã tới thôn. Cả thôn chạy ráo trọi. Chỉ còn một mình bà nội con Nguyệt nằm lại. Khi bầy tui trở về thì bà đã chết!

(Còn nữa)

In lần đầu trên Tạp chí Sông Hương số 6 năm 1992

(Theo bản trên FB Công Dũng Trương)

 

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



Những bản tin khác:



Lên đầu trang
Các bản tin mới đăng
TỪ BIỂN LÊN RỪNG - Bút ký của Ngô Xuân Huệ
Chùm thơ xuân của Trần Ngọc Ánh
Chùm thơ Đặng Hữu Trung
Thơ Dương Thuấn - song ngữ Tày Việt - P 3
Tập thơ "Tình ca Thiếu Khanh" - Phần 2
THƠ DƯƠNG THUẤN - (song ngữ Tày - Việt) P 2
Tập thơ “Tình ca Thiếu Khanh” - Phần 1
THƠ DƯƠNG THUẤN P1
Phạm Vĩnh Cư: Thưởng ngoạn tuyển tập Dương Thuấn
Phạm Ngọc Thái: Chùm thơ Khóc con
Tin cùng chủ đề
Me tây
Thung Lam
Chùm truyện ngắn Mini của Vũ Thanh Hoa
Lần đầu bên nhau ( phần 1)
Nguyễn Huy Hoàng - Tìm con, chăm bạn, làm thơ
I am đàn bà
Truyện ngắn mini - Đỗ Ngọc THạch
Lần đầu bên nhau (phần 3)
Lần đầu bên nhau (phần 2)
Tình qua tin nhắn
 
 
 
Thư viện hình