Tin tức  |  Diễn đàn  |  Thư viện hình  |  Liên hệ
Thứ hai,
20.11.2017 01:47 GMT+7
 
 
Kho bài viết
Tháng Mười một 2017
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30      
 <  > 
Nhận thư điện tử
Email của bạn

Định dạng

Thành viên online
Thành viên: 0
Khách: 1
Số truy cập: 867206
Tin tức > Phỏng vấn - Trao đổi - Bình văn > Xem nội dung bản tin
Trần Việt Hà: Học “Tiếng Việt” cùng Lưu Quang Vũ – một hiện tượng thơ bị “lãng quên”
[28.05.2017 17:11]
Xem hình
Nhà thơ Lưu Quang Vũ
Gần một tháng qua, việc thơ Xuân Quỳnh không có tên trong danh sách tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2017 đã khiến dư luận lên tiếng, đặc biệt là với nhiều trí thức, văn nghệ sĩ.

Có người đã phản ứng cực đoan rằng bị “xử ép - có chỉ đạo”và có luồng ý kiến hoài nghi về vụ “tai nạn” (khoảng 14h40 phút ngày 29/8/1988 trên đường 5, gần cầu Lai Vu) khiến cả Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ và cháu Lưu Quỳnh Thơ qua đời.

 Chuyện này tôi không lạm bàn, thôi thì người cũng đã khuất, nhắc lại chỉ thêm đau lòng. Cách tốt hơn là cùng nhau tri nhận đúng, đủ tâm - tầm - tài của họ để hậu thế thêm tưởng nhớ, trân trọng. Với nữ sĩ Xuân Quỳnh, nhiều người đã tôn vinh. Nhưng với nhà viết kịch, nhà thơ Lưu Quang Vũ (dù được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000) thì hình như vẫn có bàn tay vô hình nào đó che khuất dần, thậm chí một số người trong nghề viết lách cũng có phần lảng tránh. Cũng đúng thôi bởi giữa những ngày “đã bao giờ được như thế này”, đến ca khúc “Màu hoa đỏ” của Thuận Yến còn bị quyết định cấm lưu hành với những lí do không thể thuyết phục nổi, thì những vần thơ của cái thời được khuyến khích “nhìn thẳng vào sự thật” mà Lưu Quang Vũ viết, đếnkhi qua đời vẫn chưa thể in nổi, thì người làm phê bình khó mà tránh khỏi “ám ảnh”, khỏi “né”:

“Mấy mươi năm đã mấy lớp người

Chia lìa gục ngã

Đã tận cùng nỗi khổ

Người ta còn muốn gì Người nữa

Việt Nam ơi?

Người đau thương, tôi gắng gượng mỉm cười

Gắng tin tưởng nhưng lòng tôi có hạn

Chiều nay lạnh, tôi nghẹn ngào muốn khóc

Xin Người tha thứ, Việt Nam ơi


Tổ quốc là nơi tỏa bóng yên vui

Nơi nghĩ đến lòng ta yên tĩnh nhất

Nhưng nghĩ đến Người lòng tôi rách nát

Xin Người đừng trách giận, Việt Nam ơi”(Việt Nam ơi)

Tuy nhiên, với tôi, Lưu Quang Vũ vẫn là một người con tài hoa của đất Việt, luôn giàu cảm xúc, nặng lòng trăn trở về tương lai của đất nước bằng câu hỏi thống thiết mong muốn sự đổi thay thực sự "Đến bao giờ đến bao giờ nữa/ Việt Nam ơi!". Giữa cái thời “loạn thơ”, nhiều người viết cấp tập hay thong thả, in cả mấy tập cho tặng lung tung mà chẳng có lấy một bài đáng nhớ, thì chỉ cần một “Tiếng Việt” thôi, Lưu Quang Vũ xứng đáng để tôn vinh cùng hồn thiêng sông núi rồi. Và tôi quyết định mạn phép học “Tiếng Việt” cùng anh.

“Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm

Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về

Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm

Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre.


…Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa

Khi hun thuyền, gieo mạ, lúc đưa nôi

Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ

Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời.”

Không phải ngẫu nhiên, bắt đầu cho “Tiếng Việt”, nhà thơ nhắc đến “tiếng mẹ gọi”, “tiếng cha dặn”. Bởi với anh và với cả trăm triệu con dân nước Việt, Tiếng Việt bắt đầu từ những gì thân thuộc, gần gũi trong cuộc sống hàng ngày mà rất đỗi thiêng liêng. Ngay từ lúc ấu thơ mới bập bẹ u ơhay lúc khôn lớn“khi vun cành nhóm lửa/ Khi hun thuyền, gieo mạ, lúc đưa nôi”, hình ảnh và giọng nói của mẹ của cha luôn đọng lại những dấu ấn sâu đậmcho dù“Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói”.Cũng giống như sau này, nhà thơ Nguyễn Phan Hách đã viết trong "Tiếng Việt mến yêu" :

"MẸ- Là tiếng đầu tiên trẻ gọi

Nghe dịu dàng âu yếm biết bao

Tiếng Việt ơi ,Tiếng Việt có từ đâu

Sau tiếng MẸ là tiếng YÊU thánh thót

Tiếng NƯỚC nghe như rơi từng giọt

Tiếng ĐẤT nghe chắc nịch vững bền

Tiêng CƠM nghe ngào ngạt hương thơm"

Có biết bao lời hát ru ầu ơ ngọt ngào chứa đựng những ân tình nhắn nhủ, có biết bao câu chuyện ngày xửa ngày xưa mang bài học nghĩa nhân được ông bà, cha mẹ thủ thỉ tâm tình trong suốt tuổi thơ con. Và hơn thế, suốt bao năm tháng truân chuyên“trong hoàng hôn khói sẫm”, để “truyền giọng điệu mình cho con tập nói”(1) còn là bao tin tưởng, yêu thương và hi vọng, gửi gắm và đợi trông. Chính Tiếng Việt đã nối dài thêm hiểu biết và nuôi dưỡng nguồn mạch chảy tinh thần dân tộc trong mỗi thế hệ lớn lên.

Lưu Quang Vũ đã rất kì công để diễn tả sự phong phú ở Tiếng Việt trong quá trình phản ánh hiện thực cuộc sống đa dạng của dân tộc suốt chiều dài lịch sử. Tiếng Việt luôn hiện diện và lưu dấu ấn ở khắp nơi. Có khi đó là thanh âm của cuộc sống cần lao vất vả úp mặt vào đêm“Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng/ Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya/ Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng/ Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê” hay “Ðá cheo leo trâu trèo trâu trượt...”. Có khi đó là bức tranh mộc mạc, chân chất quê mùa không kém phần lãng mạn “Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về/ Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm/ Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre/ …Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ/ Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời” hay là “Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ”, “Tiếng heo may gợi nhớ những con đường…Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn”. Có khi lưu dấu những huyền sử buồn “Nàng Mỵ Châu quỳ xuống lạy cha già/ Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng/ Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi”hay“Như tiếng sáo như dây đàn máu nhỏ”để từ đó khẳng định sức sống bất diệt của tiếng mẹ đẻ “Tiếng chẳng mất khi Loa thành đã mất” giống như lời thầy giáo Ha-men đã nói với học sinh của mình: “Khi một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ vững tiếng nói của mình thì chẳng khác gì nắm được chìa khoá chốn lao tù” (2). Có khi đọng lại nỗi đau đời, lòng từ bi nhân hậu trướccơn bĩ cực của thập loại chúng sinh ở những bậc hiền nhân “Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán/ Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời”. Tiếng Việt mang trong mình hơi thở khỏe khoắn, nhân bản và bề dày mấy nghìn năm văn hiến.

Từ cách cắt nghĩa khéo léo, thi sĩ giúp người đọc cảm nhận được Tiếng Việt vô cùng mềm mại lấp lánh tươi đẹp bề ngoài, sâu lắng trong nội hàm tiềm chất“Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa/ Óng tre ngà và mềm mại như tơ”và đủ mọi sắc màu, cung bậc, trạng thái đủ tiếp sức cho tư duy và cảm xúc “Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát/ Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh/ Như gió nước không thể nào nắm bắt”. Tính đa thanh điệu đã làm cho tiếng Việt giàu âm sắc, lên bổng xuống trầm hơn bất cứ ngôn ngữ nào khác (Tiếng Trung, tiếng Mã Lai hay ngôn ngữ Ấn Âu ít thanh điệu hơn): “Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh/ Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy”. Nên mỗi phát âm đều giàu sức truyền cảm và tính nhạc khiến tác giả cũngthốt lên trầm trồ:“Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối”. Năm 2012, tôi đã từng được nghe các ca sĩ nước ngoài như Kyo York, Richard Fuller (Mỹ) và Lee Kerby (Anh) hát nhạc Trịnh Công Sơn trong kỉ niệm ngày sinh của ông. Khi nghe họ nhấn nhá điêu luyện và cực kì truyền cảm từng ca từ, tôi bỗng nhận ra vẻ đẹp lung linh, huyền ảo và sức hấp dẫn của tiếng Việt với họ. Chính vì thế, khi đọc câu thơ của Lưu Quang Vũ, tôi cảm thấy căm ghét và xót xa khi phải hàng ngày chứng kiến đám “trẻ trâu” Việt mặc nhiên lôi cuốn nhau bằng một thứ tiếng Việt "lai căng" - một mầm "thảm họa" về ngôn ngữ mẹ đẻ. Việc chúng tự biến tiếng Việt trở thành một công cụ giao tiếp "xì-tin" coi đó là sự "hiện đại" "đẳng cấp" thật đáng báo động. Bởi vì việc bóp méo, vứt bỏ hay khước từ tiếng nói dân tộc chính là từ chối cái gốc làm người.

Bằng niềm tự hào sâu thẳm về Tiếng Việt, Lưu Quang Vũ đã có cái nhìn so sánh với các ngôn ngữ trên thế giới để hiểu hơnvề chiều sâu bản sắc ở tiếng mẹ đẻ:

“Trái đất rộng giàu sang bao thứ tiếng

Cao quý thâm trầm rực rỡ vui tươi

Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim người

…Tiếng nghẹn ngào như đời mẹ đắng cay

Tiếng trong trẻo như hồn dân tộc Việt”.

Điều thi sĩ tâm đắc hơn cả có lẽ bởi Tiếng Việt là sợi dây vô hình kết nối những tâm hồn không hề phân biệt dù là khoảng cách không gian “Một đảo nhỏ ngoài khơi nhiều kẻ nhận/ Vẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta”; hay cảm xúc, giới tuyến. Nhà thơ coi tiếng Việt như là chất “keo loan” để gắn kết, là phương thuốc nhiệm màu để hòa hợp, hòa giải, xóa đi mọi mặc cảm lạc loài:

“Ai phiêu bạt nơi chân trời góc biển

Có gọi thầm tiếng Việt mỗi đêm khuya?

Ai ở phía bên kia cầm súng khác

Cùng tôi trong tiếng Việt quay về”

Chỉ có tình yêu sâu nặng của mỗi cá nhân với tiếng mẹ đẻ thì Tiếng Việt mới là hồn cốt, là tín vật thiêng liêng để nhận diện đồng bào, bất chấp mọi thiên kiến chính trị, hay tín ngưỡng. Tiếng Việt đã trở thành một sinh quyển để mỗi con người tìm thấy được nguồn sống cao quý của mình “Ta như chim trong tiếng Việt như rừng”. Lưu Quang Vũ đã nhân lên sự kính trọng và tự hào, niềm hạnh phúc và luyến nhớ trong mỗi người Việt khi được tận hưởng thứ âm giai kì diệu đó.

‘Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết

Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi

Như vị muối chung lòng biển mặn

Như dòng sông thương mến chảy muôn đời.”

Nếu như kịch của Lưu Quang Vũ thu phục rất nhiều khán giả trong ngoài nước bởi “nó phù hợp với tâm trạng phổ biến trong xã hội hiện đại – xã hội đã đánh mất niềm tin cũ vào những giá trị siêu nhân loại và chưa tìm được cái gì thay thế nó”(3) thì thơ của anh hấp dẫnbởi cái tình đậm đà, thắm thiết, hồn hậu, bởi sự giản dị, thân thiết và dạt dào xúc động. Còn với tôi, cho dù "Tiếng Việt" chưa được đưa vào làm văn bản sách giáo khoa như nhiều người mong muốn, việc tâm niệm những điều anh trăn trở day dứt về món nợ ân tình với Tiếng Việt và nhân dân (người sáng tạo và lưu giữ Tiếng Việt) cũng chính là “hướng đạo sư” cho quá trình tu tập viết lách, dạy chữ, dạy người của mình:

“Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ

Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn

Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá

Tiếng Việt ơi! Tiếng Việt ân tình…”

-----------------------------------------------------------------------------

1. Đọc trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm

2.Trong truyện “Buổi học cuối cùng” của An-phông-xơ Đô-đê

3. Phạm Vĩnh Cư, “Thể loại bi kịch trong văn học Việt Nam thế kỷ XX” (In trong “Sáng tạo và giao lưu”, NXB Giáo dục, 2007

Viết xong ngày 26 tháng 3 năm 2017

Trích tuyển tập "THI NHÂN VIỆT NAM 1986-2016"

T.V.H


 

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



Những bản tin khác:



Lên đầu trang
Các bản tin mới đăng
Tổng tập về rươi
Bạch Y Ngũ Bút: Thú chơi hoa "điếc không sợ súng" của Vương phu nhơn (phần 2)
Bạch Y Ngũ Bút: Thú chơi hoa "điếc không sợ súng" của Vương phu nhân (phần 1)
Bạch Vọng Hà: Chùm thơ về nước Nga và Liên Xô
Huệ Minh Thi: Bát Mọt - Mưa lũ qua nhanh, tang thương, tái nghèo ở lại!
Bế mạc Cuộc gặp mặt lần thứ nhất “Nhà văn với sứ mệnh đại đoàn kết dân tộc
Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các nhà văn Việt Nam ở nước ngoài với Hội Nhà văn Việt Nam
Hoàng Tuấn Công: Đồng ta còn đất với ta thôi!
Các đại biểu dự cuộc gặp mặt “Nhà văn với sứ mệnh đại đoàn kết dân tộc hành hương về đất Tổ ̉
Khai mạc cuộc gặp mặt lần thứ nhất “Nhà văn với sứ mệnh đại đoàn kết dân tộc”
Tin cùng chủ đề
Choáng váng truyện sex trẻ em
NGƯT Vũ Thế Khôi: Không có đạo thầy trò thì đừng nói đến giáo dục
Mệnh lệnh của tổ tiên - PGS-TS Trần Hữu Tá
Tưởng nhớ thầy Trần Quốc Nghệ - Người thầy siêu giỏi
Phiên âm hay viết theo tiếng Anh?
Vì sao tôi dịch lại thơ Đường?
Người viết trẻ có còn mơ vào Hội Nhà văn?
Khoảng trống của văn học Việt Nam trên văn đàn Nga
Cụ Vũ Đình Hoè, cựu Bộ trưởng tư pháp kể chuyện về luật sư Nguyễn Mạnh Tường tại phiên toà xét xử ông cố vấn Vĩnh Thuỵ
Nỗi xấu hổ của dịch giả Ruồi Trâu
 
 
 
Thư viện hình